vanban.org

Bản án 489/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 18/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 489/2019/HS-ST Tuyên án 18/10/2019
Phúc thẩm Bản án 25/2020/HS-PT Tuyên án 12/02/2020

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 489/2019/HS-ST.
Ngày: 18/10/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trang Văn Hai;

2. Bà Nguyễn Thị Nhạn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hoàng - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 18 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 473/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 449/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc Việt T, sinh năm 1981. Tại Đồng Nai. Nơi cư trú: 128/6B, khu phố 6, phường T, thành phố B, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Tài xế. Trình độ học vấn: 8/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Bùi Thị T, sinh năm 1950 (đã chết). Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo có vợ tên Đào Ngọc T, sinh năm 1999. Bị cáo có 01 con sinh ngày 17/6/2019.

Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 06/7/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 19/4/2016.

Bị bắt quả tang ngày 06/7/2019, đến ngày 15/7/2019, được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa hủy bỏ tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc Việt T là người nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 05/7/2019, T đến khu vực đường Cách mạng tháng tám, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh mua 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) của một người đàn ông (không rõ lai lịch) để sử dụng.

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 06/7/2019, T cất giấu gói ma túy trên vào túi quần trước bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô biển số 51K2-9724 đi đến tổ 7, khu phố 5, phường T, thành phố B, thì bị Công an phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 (một) gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng đã được niêm phong.

+ 01 (một) xe mô tô hiệu wave zx biển số 51K2-9724, Nguyễn Quốc Việt T mượn của người thanh niên tên Bi (không rõ lai lịch).

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu HUAWEI, số thuê bao 0797161716 của Nguyễn Quốc Việt T không sử dụng vào việc phạm tội.

Tại Kết luận giám định số 3311/C09B ngày 15/7/2019 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: “Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng 0,7582 gam, loại Methamphetamine”

Tại cáo trạng số: 475/CT/VKSBH ngày 20 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Nguyễn Quốc Việt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Bị cáo Nguyễn Quốc Việt T không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở lại cộng đồng xã hội.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc Việt T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về nội dung vụ án, tội danh và áp dụng điều luật:

Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc Việt T đã khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 06/7/2019, tại tổ 7, khu phố 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đ, Nguyễn Quốc Việt T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,7582 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an phường T, thành phố B phát hiện, bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc Việt T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đã bị xét xử về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục vi phạm. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét kinh tế bị cáo còn khó khăn, bản thân lại nghiện chất ma tuý, không có điều kiện để thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định.

Trả lại cho Nguyễn Quốc Việt T 01 (một) điện thoại di động hiệu HUAWEI, số Imei 867907035476496 do không sử dụng vào việc phạm tội.

Đối với người đàn ông (chưa rõ lai lịch) đã bán ma túy cho Nguyễn Quốc Việt T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Đối với xe mô tô biển số 51K2-9724. Kết quả xác minh tại Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Nai xác định: biển số 51K2-9724 là giả. Tra cứu số khung, số máy trùng khớp với xe mô tô biển số 60V1-5421, hiệu HAVICO do anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1960, ngụ tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đ đứng tên chủ sở hữu. Anh T khai đã bán xe cho người khác không rõ lai lịch. Do đặc điểm xe thu giữ không trùng khớp, chưa làm rõ được nguồn gốc xe nên Cơ quản Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Việt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Nguyễn Quốc Việt T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 06/7/2019 đến ngày 15/7/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, được niêm phong trong gói niêm phong số: 3311/C09-GĐMT ngày 15/7/2019 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an.

Trả lại cho Nguyễn Quốc Việt T 01 (một) điện thoại di động hiệu HUAWEI, số Imei 867907035476496 do không sử dụng vào việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/10/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Quốc Việt T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Quốc Việt T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ