- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Thu Ng - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Đinh Thu Ng phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 256 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 487/2026/HSPT Ngày: 30 - 6 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Trực
Các Thẩm phán:
1. Bà Lê Thị TN Huyền;
2. Ông Trần Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Th Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 341/2026/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo Đinh Thu Ng do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 105/2026/HSST ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Đinh Thu Ng, giới tính: Nữ; sinh ngày 15 tháng 9 năm 1994, tại tỉnh Hải Dương (nay là Thành phố Hải Phòng); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Căn hộ X, chung cư Y, số M, đường T, phường K (phường K, thành phố Thủ Đức cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: đường Đ, phường T (Phường P, quận Q cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; căn cước công dân số 030194017300; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; con ông Đinh Th T (sinh năm 1973) và bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1974); bị cáo sống chung như vợ chồng với Phạm Thái Ph (bị cáo cùng vụ án) và có 01 người con (sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/8/2024 - có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Hải B và Nguyễn Th Tr – Luật sư, đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh – có mặt.
Vụ án còn có các bị cáo Phạm Thái Ph, Đinh Thành P không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Thái Ph và Đinh Thu Ng sống chung như vợ chồng, có một con chung 7 tháng tuổi và cùng cư trú tại đường Đ, Phường P, quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 02/7/2024, Ng ký hợp đồng với Phạm Minh K thuê nhà số L, đường V, phường L, Quận S (nay là phường G), Thành phố Hồ Chí Minh giá 13.000.000 đồng/tháng để kinh doanh hoạt động tiêm filler. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 29/7/2024, Th (bạn của Ph) đi cùng bạn gái là Nguyễn Kiều D đến nhà số L, đường V, phường L, Quận S của Ng để tiêm filler cho D. Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày, Phan thị Tuyết Nh là bạn của Ng dẫn theo Võ Nguyễn Thành Đ, Mạch Diễm N cùng đến nhà Ng để giới thiệu cho Đ và N tiêm filler. Trong lúc chờ Đinh Thu Ng tiêm filter, Phạm Thái Ph lần lượt rủ Th, Nguyễn Kiều D, Nguyễn Thành Đ, Mạch Diễm N, Phan thị Tuyết Nh lên phòng tại lầu 1 (bên trái hướng cầu thang đi lên) để ngồi chơi ăn uống. Tại đây, Ph lấy từ trong tủ quần áo ra 01 đĩa sứ bên trên có sẵn ma túy Ketamine (do trước đó Ph sử dụng chưa hết) ra mời mọi người sử dụng. Sau đó, Ph tiếp tục lấy ra 01 gói ma túy “nước vui” hiệu Ferrari mang xuống bếp tại tầng trệt pha với nước ngọt Red Bull cho vào 02 tô sứ. Ph để 01 tô trong tủ lạnh, tô còn lại Ph mang lên phòng lầu 1 mời mọi người cùng sử dụng. Ng sau khi tiêm filler cho D và N xong cũng vào phòng ngồi chơi chung cùng mọi người. Ng thấy mọi người sử dụng ma túy nhưng không sử dụng chung. Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 30/7/2024, Tổ công tác Công an Quận S kiểm tra hành chính nhà số L, đường V, phường L, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Th vừa ra khỏi phòng đi xuống khu vực tầng trệt nên được Tổ công tác yêu cầu mở cửa vào kiểm tra. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện trong phòng bên trái (theo hướng cầu thang đi lên) lầu 1 có Phạm Thái Ph, Đinh Thu Ng, Nguyễn Kiều D, Phan thị Tuyết Nh, Võ Nguyễn Thành Đ, Mạch Diễm N đang tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời kiểm tra phát hiện:
- Trên bàn nhỏ đặt sát tường bên phải hướng cửa phòng đi vào có 01 tô sứ bên trong 273ml chất lỏng màu cam tìm thấy Methamphetamine, MDMA, Ketamine. Trong đó có 0,0405 gam ma túy ở thể rắn loại MDMA, 0,0743gam ma túy ở thể rắn loại Ketamine, Methamphetamine ở dạng vết không xác định được khối lượng.
- Trên ghế nệm dài đặt sát tường bên phải hướng cửa phòng đi vào có 01 đĩa sứ, bên trong đĩa có tinh thể khối lượng 0,2042 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine.
- Trên ngăn kệ tủ trên cùng của tủ quần áo đặt sát tường cuối phòng bên phải hướng cửa phòng đi vào có 01 gói nylon chứa tinh thể có khối lượng 0,9226 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine.
- Trên ngăn kệ tủ thứ 2 từ trên xuống của tủ quần áo đặt sát tường cuối phòng bên phải hướng từ cửa phòng đi vào có 01 gói nylon chứa mảnh vụn viên nén có khối lượng 0,1831 gam, là ma túy ở thể rắn, loại MDMA.
- Trên bàn nhỏ đặt sát góc tường cuối phòng bên trái hướng cửa phòng đi vào có 01 hộp giấy bên ngoài in chữ “Whitening Body Cream E100” bên trong có 01 gói nylon màu đỏ in chữ Ferrari chứa bột có khối lượng 8,1217 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine.
Ngoài ra, Tổ công tác còn phát hiện 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 thẻ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Techcombank tên Pham Thai Ph tại nhiều nơi trong phòng do Ph khai là dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
Tổ công tác Công an Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thu giữ toàn bộ vật chứng, đưa Ph, Ng, Th, D, N, Đ, Nhi về trụ sở Công an phường L, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh để làm rõ. Tại Cơ quan Công an, Ph, Th, Đ, N khai đều có sử dụng ma túy tại phòng lầu 1 nhà số L, đường V, phường L, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh do Ph cung cấp. Cả nhóm đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện như đã nêu trên. Qua xét nghiệm, Phạm Thái Ph, Th, Võ Nguyễn Thành Đ, Mạch Diễm N đều dương tính với ma túy Methamphetamine, MDMA, Ketamine. Đối với Đinh Thu Ng, Phan thị Tuyết Nh, Nguyễn Kiều D âm tính với chất ma túy.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Thu Ng tại nhà số L, đường V, phường L, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện bên trong tủ lạnh đặt tại tầng trệt có 01 tô sứ đựng chất lỏng màu cam (qua giám định) có thể tích 210ml, tìm thấy Methamphetamine, MDMA, Ketamine, trong đó có 0,0233 gam ma túy ở thể rắn loại MDMA, 0,0384 gam ma túy ở thể rắn loại Ketamine, Methamphetamine ở dạng vết không xác định được khối lượng. Trên sàn nhà tại khu vực bếp có 01 túi nylon đựng rác, bên trong có 01 vỏ gói nylon màu đỏ in chữ Ferrari bên trong dính bột (qua giám định) tìm thấy Ketamine ở dạng vết, không xác định được khối lượng.
(Toàn bộ ma túy thu giữ nêu trên đã được trưng cầu giám định và kết luận tại Kết luận giám định số 9071/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh)
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thái Ph khai nhận ma túy loại Ketamine và “thuốc lắc” (MDMA) được Ph mua của đối tượng tên “Mỹ” (không rõ lai lịch) qua mạng xã hội Telegram mang về cất giấu nhiều nơi trong phòng để dành sử dụng. Riêng ma túy “nước vui” hiệu Ferrari được Ph nhờ Đinh Thành P đặt mua giùm cho Ph vào ngày 25/7/2024. Ph nhờ Tân đặt giùm 01 gói nhưng người bán giao nhầm thành 10 gói. Ph đã sử dụng hết 08 gói, ngày 29/7/2024 Ph lấy ra 01 gói pha với nước ngọt Red Bull cho vào 02 tô sứ để cùng mọi người sử dụng, gói còn lại bị Cơ quan Công an thu giữ. Việc Ph cất giữ toàn bộ ma túy trong phòng lầu 1 nhà L, đường V, phường L, Quận S (nay là phường G), Thành phố Hồ Chí Minh, Ph không cho Đinh Thu Ng biết.
Quá trình điều tra, lời khai của các bị cáo Phạm Thái Ph, Đinh Thu Ng, Đinh Thành P phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai người chứng kiến; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản đối chất; biên bản nhận dạng; biên bản ghi nhận sự việc; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản khám xét; Kết luận giám định; Kết quả xét nghiệm ma túy; Bản ảnh cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập được. Vật chứng vụ án:
- 07 (bảy) gói niêm Ph với các chữ ký ghi tên Giám định viên Đại úy Bùi Công Danh, Cán bộ Điều tra Lê Anh Kế, ghi các vụ số 9071 (2776)/24 Gói 1, 9071 (2776)/24 Gói 2, 9071 (2776)/24 Gói 3, 9071 (2776)/24 Gói 4, 9071 (2776)/24 Gói 5, 9071 (2776)/24 Gói 6, 9071 (2776)/24 Gói 7, bên trong chứa phần ma túy còn lại sau giám định.
- 02 (hai) tô sứ; 01 (một) muỗng sứ; 01 (một) đĩa sứ; 01 (một) thẻ Ngân hàng TN mại Cổ phần Kỹ tN Việt Nam (Techcombank) mang tên Pham Thai Ph. Tạm giữ của Phạm Thái Ph: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (được cuộn tròn); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, các số Imei: 350419531075586, 350419531279022 (đã qua sử dụng). Tạm giữ của Đinh Thành P: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, các số Imei: 351055820698073, 351055820614229 (đã qua sử dụng) Tại bản án hình sự sơ thẩm số 105/2026/HSST ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: “… - Căn cứ điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Thái Ph 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Thái Ph số tiền 50.000.000 đồng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và số tiền 5.000.000 đồng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt bổ sung hai tội trên là 55.000.000 đồng.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đinh Thu Ng 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ thời điểm bị cáo đi chấp hành án. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Thu Ng về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đinh Thành P 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024..… .” Ngoài ra bản án còn tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 17/3/2026, bị cáo Đinh Thu Ng có đơn kháng cáo kêu oan không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”, vì không biết việc các bị cáo và người liên quan sử dụng ma tuý.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo bị cáo Đinh Thu Ng giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bị cáo xác định không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình. Trong phần tranh luận bị cáo đồng ý bào chữa của Luật sư. Nói lời sau cùng bị cáo xin Tòa xem xét chấp nhận kháng cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo Ng trình bày: Chứng cứ có trong hồ sơ chưa đủ căn cứ chứng minh bị cáo Ng phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời điểm hôm xảy ra vụ án, bị cáo Ng không hề hay biết về hành vi của bị cáo Phạm Thái Ph và người liên quan có sử dụng ma tuý, bị cáo Ng là một trong hai người lên sau cùng (sau khi bị cáo Ng tiêm filler cho bà Mạch Diễm N và dọn dẹp dụng cụ làm đẹp, dọn dẹp phòng), khi lên phòng bị cáo Ng cũng không giao tiếp với ai, thời điểm đó phòng rất đông người, bị cáo Ng chỉ mới lên được một thời gian rất ngắn thì công an vào kiểm tra, phát hiện thu giữ ma túy và đưa mọi người lên phường để làm việc. Về ý thức chủ quan bị cáo Ng không biết việc Ph và mọi người sử dụng ma túy, trong thời gian Ng có mặt tại phòng lầu 1, trước thời điểm Công an kiểm tra thì không có ai sử dụng ma túy trước mặt Ng. Cấp sơ thẩm chỉ dựa vào lời khai duy nhất của bị cáo Ng để kết tội, nhưng lại có mâu thuẫn chưa được làm rõ. Ngoài ra việc truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự là không phù hợp. Do đó, việc các Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm kết tội bị cáo Đinh Thu Ng về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là thiếu căn cứ, có oan sai, không đúng người, đúng tội vì vậy đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo và huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Đinh Thu Ng tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Việc bị cáo thay đổi lời khai cho rằng bản thân không biết việc bị cáo Ph cùng các đối tượng liên quan sử dụng ma tuý là không có cơ sở nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Bị cáo Đinh Thu Ng là người thuê căn nhà nhà số L, đường V, phường L, Quận S (nay là phường G), Thành phố Hồ Chí Minh để ở và kinh doanh. Ng có sống chung như vợ chồng với Phạm Thái Ph tại căn nhà này. Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 30/7/2024, Tổ công tác Công an Quận S kiểm tra hành chính nhà số L, đường V, phường L, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện quả tang tại lầu 1 có Phạm Thái Ph, Đinh Thu Ng, Nguyễn Kiều D, Phan thị Tuyết Nh, Võ Nguyễn Thành Đ, Mạch Diễm N đang tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy cùng vật chứng. Kết quả điều tra xác định:
- Phạm Thái Ph có hành vi cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy để cho Mạch Diễm N, Võ Nguyễn Thành Đ, Th sử dụng trái phép chất ma túy như trên. Ngoài ra còn thu giữ của Ph số ma tuý cất giữ với mục đích sử dụng gồm: 0,2468 gam ma túy loại MDMA, 1,2395 gam ma túy loại Ketamine và 8,1217 gam ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine.
- Đinh Thu Ng chứng kiến việc các bị cáo trên cùng nhau sử dụng tại căn nhà do Ng là chủ sử dụng quản lý và bị Cơ quan công an phát hiện bắt quả tang nêu trên. Tổ công tác Công an Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thu giữ toàn bộ vật chứng, đưa Ph, Ng, Th, D, N, Đ, Nhi về trụ sở Công an phường L, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh để làm rõ xử lý. Tại Cơ quan Công an, Ph, Th, Đ, N khai đều có sử dụng ma túy tại phòng lầu 1 nhà số L, đường V, phường L, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh, ma tuý do Ph cung cấp. Cả nhóm đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện quả tang cùng có mặt của Đinh Thu Ng tại hiện trường vụ án cùng vật chứng là ma tuý và dụng cụ sử dụng. [2].Với hành vi phạm tội trên của bị cáo Đinh Thu Ng, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử tuyên bị cáo Đinh Thu Ng đã phạm vào tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đinh Thu Ng có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm của Toà án nhân nhân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. [3]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đinh Thu Ng với nội dung kêu oan cho rằng mình không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thừa nhận thời điểm Công an vào kiểm tra tại phòng lầu 1 nhà số L, đường V, phường L, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh có mặt bị cáo cùng bị cáo Ph và những người liên quan, thu giữ vật chứng tại hiện trường đúng như nội dung bản kết luận điều tra, bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu là đúng. Căn nhà số L nêu trên là do bị cáo ký hợp đồng thuê, trực tiếp quản lý để ở và kinh doanh. Các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biện bản hỏi cung ban đầu, biên bản đối chất có chữ ký, chữ viết của bị cáo có “…Tôi đã đọc lại biên bản hỏi cung xác nhận đúng lời khai của tôi, cam đoan đúng sự thật do tôi tự khai báo…” theo đó bị cáo thừa nhận biết việc Phạm Thái Ph và bạn bè đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng bên trái lầu 1 của căn nhà (Tuy nhiên sau đó bị cáo thay đổi lời khai cho rằng bản thân không biết việc Ph và những người liên quan sử dụng ma tuý). Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo vẫn cho rằng bản thân không biết việc Ph và những người liên quan sử dụng ma tuý nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Xét thấy, quá trình điều tra, truy tố tại cấp sơ thẩm bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì đối với bản kết luận điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tranh tụng tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: bị cáo Đinh Thu Ng trực tiếp chứng kiến (có mặt tại phòng nơi Ph và người liên quan bị phát hiện qua tang đang trực tiếp sử dụng ma tuý cùng vật chứng) việc bị cáo Phạm Thái Ph, cùng Mạch Diễm N, Võ Nguyễn Thành Đ, Th sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng lầu 1 nhà số L, đường V, phường L, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh, đây là địa điểm thuộc quyền quản lý sử dụng của Ng (theo hợp đồng thuê nhà) nhưng bị cáo không có ý kiến gì, thể hiện ý thức chủ quan bị cáo đồng ý để cho các đối tượng trên được sử địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để sử dụng trái phép chất ma tuý, đã bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện quả tang (cùng có mặt của bị cáo Đinh Thu Ng tại hiện trường vụ án) đã phạm vào tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, việc kháng cáo kêu oan của bị cáo Đinh Thu Ng là không có cơ sở nên không được chấp nhận. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Thu Ng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Nhận định trên cũng là quan điểm lập luận của Hội đồng xét xử đối với quan điểm bào chữa của Luật sư cho bị cáo tại phiên toà.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Bị cáo Đinh Thu Ng phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01/01/2017.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Thu Ng, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 105/2026/HSST ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh đối với Đinh Thu Ng.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đinh Thu Ng 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
- Bị cáo Đinh Thu Ng phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - TANDTC; (1) - VKSND TP .HCM; (3) - VKSND Khu vực 1; (1) - PV06-CATP. HCM; (1) - Bị cáo, luật sư; (2) - THA HS Khu vực 1 (1) - TAND Khu vực 1 (1) - UBND nơi BC cư trú; (1) - Lưu,Tòa hình sự, hồ sơ (18).(3) | THẨM PHÁN Huỳnh Văn Trực |