vanban.org

Bản án 487/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 21/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo TNT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: TNT 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2022. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 0,183 gam ma túy và vỏ bao gói mẫu sau giám định, mặt sau có chữ ký của Tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Tú - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo TNT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 487/2022/HSST
Ngày 24/11/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Trường Kháng.

2. Ông Trần Sinh Tụ.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái, ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 24/11/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 444/2022/HSST ngày 20/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 417/2022/QĐXXST-HS ngày 09/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: TNT; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 08 tháng 4 năm 1980 tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Tổ 4, phường TL, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Cao Ngọc K, sinh năm 1949; Con bà: Trần Thị H, sinh năm 1955; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1988 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; Túiền án, túiền sự: Không; Nhân thân: + Tại Bản án số 17/HSST ngày 13/12/2001 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 12 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 18/9/2002. Đã chấp hành xong án phí ngày 30/9/2009; + Ngày 31/12/1997, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định đưa vào Trường giáo dưỡng số 2 - Tam Điệp, Ninh Bình, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 14/10/1999; + Ngày 26/9/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 14/01/2020.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2022 đến nay).

(Có mặt tại phiên tòa).

Ngƣời chứng kiến: 1. Ông CQC, sinh năm 1960. (Vắng mặt).

Trú quán: Xóm 10, xã Q, thành phố Thái Nguyên.

2. Ông LTT, sinh năm 1965.(Vắng mặt).

Trú tại: Xóm TS 1, xã Q, thành phố Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 11 giờ 20 phút, ngày 07/7/2022, tổ công tác Công an xã Q, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm 10, xã Q, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, người này khai tên là TNT. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu A). T khai chất bột màu trắng là ma túy của T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã túiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với TNT và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,199 gam (niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định). Tại bản Kết luận giám định số 1068/KL-KTHS ngày 15/7/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,199 gam (BL 41).

Tại Cơ quan điều tra, TNT khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy từ năm 1997 đến nay chưa bỏ được. Nên khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 07/7/2022, sau khi làm thợ hàn xì xong T đi bộ vào khu vực chợ Nông Lâm thuộc xóm 10, xã Q, thành phố Thái Nguyên với mục đích mua ma túy về để bản thân sử dụng. Khi đi đến nơi T gặp và hỏi mua của một nam thanh niên không quen biết 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy với giá 200.000 đồng. Mua xong, T cất số ma túy trên vào túi quần phía trước bên trái T đang mặc rồi đi bộ về tìm nơi sử dụng, thì bị Công an xã Q, thành phố Thái Nguyên bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận của TNT phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng c a v n: - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định;

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu. Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên

Bản cáo trạng số 440/CT-VKSNDTPTN ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố TNT về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo TNT phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy. Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt TNT mức án từ 21 đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định..

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội;

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1] .Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan túiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan túiến hành tố tụng, người túiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 11 giờ 20 phút, ngày 07/7/2022, tại khu vực xóm 10, xã Q, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, TNT đã có hành vi tàng trữ 0,199 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã Q, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi trách nhiệm dân sự và biết ma túy là vật cấm và được Nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy là 0,199 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ tr i phép chất ma túy mà không nhằm m c đích mua b n, vận chuyển, sản xuất tr i phép chất ma túy thuộc một trong c c trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ....

c, Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"

Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác..

Xét nhân thân, các tình túiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu năm 2001 Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Năm 1997 đã bị Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định về việc đưa vào cơ sở giáo dưỡng với thời hạn là 24 tháng. Năm 2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 12 tháng. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định hành chính. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, lại nghiện ma Túy và tàng trữ trái phép chất ma Túy.

Về tình túiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình túiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình túiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào..

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 21 đến 24 tháng tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp..

Vật chứng của vụ án: Cần tịch thu túiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định;

- 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.

Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, TNT khai mua của một nam thanh niên không quen biết tại khu vực chợ Nông Lâm, thuộc xóm 10, xã Q, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch của người nàynên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Về hình phạt bổ sung và án phí:

- Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bởi c c lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

1. Bị cáo TNT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt: TNT 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2022.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 0,183 gam ma túy và vỏ bao gói mẫu sau giám định, mặt sau có chữ ký của Trương Đăng T và 02 dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên.

- 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa vỏ bì niêm phong ban đầu, mặt sau có chữ ký của: Ngô Kim T, Nguyễn Hữu H, Mai Thanh V, CQC, TNT và 03 dấu của Cơ quan CSĐT Công an TPTN.

(Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng 50 ngày 26/10/2022).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo TNT phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ