vanban.org

Bản án 484/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017;

đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 484/2024/DS-ST
Ngày 19-7-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Thanh Thùy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Nguyên.

Ông Lại Hữu Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số

551/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín

dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 319/2024/QĐXXST-DS

ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 306/2024/QĐST-DS

ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Trụ sở: Số 266 – 268, đường N, phường Võ T, Quận A, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Gia T; địa chỉ: Số

278, đường N, phường Võ T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại

diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 11/8/2023) (vắng

mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Duy N (vắng mặt).

Địa chỉ: B4/18A, ấp A, xã Vĩnh L, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ

Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28/9/2023 và lời khai của người đại diện hợp

pháp của nguyên đơn – ông Trần Gia T thì:

Ngày 25/6/2020, ông Trần Duy N ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần

S Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi chung là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/6/2020). Căn cứ vào thu nhập của ông Nguyên, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã đồng ý cấp cho ông N thẻ tín dụng Visa số 472074-6285 với hạn mức sử dụng là 12.000.000đ (mười hai triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng

số tiền là 19.673.200đ (mười chín triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm đồng).

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N

đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 14.740.163đ (mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi nghìn một trăm sáu mươi ba đồng), thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và

Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S), Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông N không có thiện chí trả nợ nên ngày 23/8/2022 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông N và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 13.329.228đ (mười ba triệu ba trăm hai mươi chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng) sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) và áp dụng lãi suất nợ quá hạn tính trên nợ gốc – số nợ quá hạn nêu trên (bằng 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn 1.7%) là 2.55%/tháng. Tính đến ngày 19/7/2024, ông N còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S các khoản sau: Nợ gốc là 13.329.228đ (mười ba triệu ba trăm hai mươi chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng), lãi quá hạn là 7.897.010đ (bảy triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn không trăm mười đồng), tổng cộng là 21.226.238đ (hai mươi mốt triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi tám đồng).

Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông N phải

thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền còn thiếu của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/6/2020 tính đến ngày 19/7/2024 là 21.226.238đ (hai mươi mốt triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi tám đồng), gồm nợ gốc là 13.329.228đ (mười ba triệu ba trăm hai mươi chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng), lãi quá hạn là 7.897.010đ (bảy triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn không trăm mười đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/7/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi quy

định tại Hợp đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S chỉ yêu cầu cá nhân ông

N có trách nhiệm thanh toán tiền sử dụng thẻ còn nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ

tín dụng ngày 25/6/2020, ngoài ra không yêu cầu ai khác có trách nhiệm thanh

toán khoản nợ nêu trên.

Bị đơn – ông Trần Duy N đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố

tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình

bày ý kiến.

Theo kết quả xác minh ngày 12/3/2024 của Công an xã Vĩnh L, huyện B,

Thành phố Hồ Chí Minh tại Công văn số 2973/TAHBC ngày 24/10/2023 của

Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh

tình trạng cư trú của bị đơn thì ông Trần Duy N có đăng ký hộ khẩu thường trú

tại B4/18A, ấp A, xã Vĩnh L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, bán nhà đi từ

năm 2022, đi đâu không rõ.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Trần Gia T có đơn đề nghị

xét xử vắng mặt Ông.

Bị đơn – ông Trần Duy N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt

không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng

các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử

chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 196; khoản 1 Điều 203 của Bộ

luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện

đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện

quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng

dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình

theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu

cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Về án phí: Ông N phải

chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận

định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

khởi kiện yêu cầu ông Trần Duy N trả số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ

tín dụng ngày 25/6/2020. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng

ngày 25/6/2020 và kết quả xác minh ngày 12/3/2024 của Công an xã Vĩnh L,

huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông N có địa chỉ giao dịch cũng là nơi cư

trú cuối cùng tại B4/18A, ấp A, xã Vĩnh L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện hợp pháp của

nguyên đơn – ông Trần Gia T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn – ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:

Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/6/2020 (gồm Giấy

đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 25/6/2020, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) có chữ ký xác nhận của ông Trần Duy N và đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có cơ sở xác định ngày 25/6/2020 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã cấp thẻ tín dụng cho ông N với hạn mức sử dụng là 12.000.000đ (mười hai triệu đồng), mục đích để tiêu dùng cá nhân. Việc giao kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/6/2020 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông N là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đã phát sinh hiệu lực.

Căn cứ Bảng tóm tắt sao kê ngày 19/7/2024 thì trong quá trình thực

hiện hợp đồng, ông N đã thực hiện các giao dịch tính đến ngày 19/7/2024 với tổng số tiền là 19.673.200đ (mười chín triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm đồng), phí trễ hạn là 1.360.855đ (một triệu ba trăm sáu mươi nghìn tám trăm năm mươi lăm đồng), lãi là 12.854.346đ (mười hai triệu tám trăm năm mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi sáu đồng), phí là 2.078.000đ (hai triệu không trăm bảy mươi tám nghìn đồng). Ông N đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là 14.740.163đ (mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi nghìn một trăm sáu mươi ba đồng). Sau khi trừ các khoản phải thanh toán theo thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 20 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S lần lượt là: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ thì số tiền ông N còn nợ tính đến ngày 23/8/2022 là 13.329.228đ (mười ba triệu ba trăm hai mươi chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng). Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/8/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông N và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 13.329.228đ (mười ba triệu ba trăm hai mươi chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng) sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và quy

định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ

chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 nên có

cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc

ông N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc

còn lại là 13.329.228đ (mười ba triệu ba trăm hai mươi chín nghìn hai trăm hai

mươi tám đồng).

Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi: Căn cứ Quyết định số

2524/2020/QĐ-TTT ngày 24/8/2020 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về

việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ Sacombank phát hành tại Việt

Nam; mục 1.24 phần giải thích thuật ngữ và Điều 23 của Bản Điều khoản và

Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ

phần S thì mức lãi suất trong hạn được áp dụng đối với Hợp đồng sử dụng thẻ

tín dụng ngày 25/6/2020 là 1.7%/tháng. Mục 1.24 phần giải thích thuật ngữ và

Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S quy định lãi suất quá hạn là 150% lãi suất

được áp dụng, tương đương 2.55%/tháng (1.7%/tháng x 150%). Ngân hàng

Thương mại Cổ phần S đã chuyển số nợ gốc chưa thanh toán là 13.329.228đ

(mười ba triệu ba trăm hai mươi chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng) sang

nợ quá hạn từ ngày 23/8/2022, áp dụng mức lãi suất 2.55%/tháng được tính trên

số nợ gốc tương ứng với thời gian vi phạm nghĩa vụ tính đến ngày 19/7/2024 là

7.897.010đ (bảy triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn không trăm mười đồng) là

có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm

2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Về trách nhiệm thực hiện

nghĩa vụ dân sự: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S xác định chỉ yêu cầu ông N

có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với ông N thực

hiện nghĩa vụ dân sự nêu trên. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

thể hiện ông N đã sử dụng số tiền vay để phục vụ nhu cầu cá nhân nên không

buộc ai phải cùng có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của ông Nguyên.

Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương

mại Cổ phần S, buộc ông N có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ phát sinh

theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/6/2020 tính đến ngày 19/7/2024 là

21.226.238đ (hai mươi mốt triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi

tám đồng), gồm nợ gốc là 13.329.228đ (mười ba triệu ba trăm hai mươi chín

nghìn hai trăm hai mươi tám đồng), lãi quá hạn là 7.897.010đ (bảy triệu tám

trăm chín mươi bảy nghìn không trăm mười đồng) và tiếp tục thanh toán tiền lãi

phát sinh kể từ ngày 20/7/2024 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã

giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ

phí Tòa án, do Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.061.312đ (một triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm mười hai đồng); Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1

Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010

đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017;

- Căn cứ vào Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội

đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một

số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ

phần S.

Buộc ông Trần Duy N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương

mại Cổ phần S tổng số tiền còn nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/6/2020 tính đến ngày 19/7/2024 là 21.226.238đ (hai mươi mốt triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi tám đồng), trong đó, nợ gốc là 13.329.228đ (mười ba triệu ba trăm hai mươi chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng) và lãi quá hạn là 7.897.010đ (bảy triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn không trăm mười đồng).

Kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Duy N còn

phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Duy N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.061.312đ (một triệu

không trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm mười hai đồng).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ

thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí

dân sự sơ thẩm đã nộp là 424.437đ (bốn trăm hai mươi bốn nghìn bốn trăm ba

mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0020486 ngày

17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các

năm 2014, 2018, 2020, 2022 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi

hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,

7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một

số điều các năm 2014, 2018, 2020; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo

quy định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ

sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo

là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày đương sự được giao bản án hoặc bản án được

niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ