- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp xin ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữ anh Nguyễn Quang Lộc và chi Nguyễn Thị Ngọc Trinh"
- Tòa quyết gì? Quốc hội ngày 30/12/2016.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNCHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bảnán số:484/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30/08/2023 V/v Tranh chấp Ly hôn Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tường; Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Minh Toàn 2.Bà Lê Thị Phương Thảo Thành sát viên xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 288/2023/TLST-HNGĐ ngày 07/6/2023 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 14/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Lê Quang L sinh năm 1969 Địa chỉ: ấp T.H, xã S.T, Châu Thành, Tiền Giang 2. Bị đơn: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1972 Địa chỉ: ấp T.H, xã S.T, Châu Thành, Tiền Giang (anh L có đơn xin vắng mặt, chị T vắng mặt tại phiên toà) | Ngày 30 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn Lê Quang L trình bày:
Anh L và chị T chung sống vợ chồng,có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã
S.T vào năm 2003. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính tình, thường xuyên cãi nhau. Do mâu thuẫn kéo dài mặc dù cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng không còn đã ly thân từ năm 2013 đến nay nên anh L xin Tòa án giải quyết ly hôn với chị T. Về con chung có 01 con chung tên Lê Thành N sinh năm 2006. Khi ly hôn, anh L xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- 2 -
Về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về nợ chung,
không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Bị đơn chị Nguyễn Ngọc T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án từ khi
thụ lý cũng như tại phiên tòa, không có ý kiến yêu cầu trình bày đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của anh L
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
* Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Anh L và chị T quen biết sau đó tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2003,
có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã S.T vào năm 2003. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo anh L trình bày là do bất đồng quan điểm,không hợp tính tình, thường xuyên cãi nhau đã ly thân từ năm 2013 đến nay. Do thấy không còn tình cảm nên anh L làm đơn xin ly hôn với chị T. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị T là hôn nhân hợp pháp. Nay anh L xin ly hôn với chị T nên được xem xét giải quyết theo quy định Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.
Bị đơn Nguyễn Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào
Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh L:
Anh L có đơn xin vắng mặt tại trong quá trình giải quyết và có đơn khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết ly hôn với lý do giữa anh L và chị T phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống bất đồng quan điểm, không hợp tính tình, thường xuyên cãi nhau hiện đã ly thân từ năm 2013 đến nay,giữa hai vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn.
Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa anh chị đã có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2013
và đã đến mức trầm trọng, hiện anh chị đã ly thân từ năm 2013 đến nay. Chị T trong suốt quá trình giải quyết của Tòa án từ giai đoạn hòa giải cho đến khi xét xử đều vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu ly hôn chứng tỏ chị T không còn tình cảm và không quan tâm đến anh L, cũng không có ý kiến hay biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với anh L.
Do đó có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh chị là trầm trọng, không có khả năng
hàn gắn, nên xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung:
Anh L và chị T có 01 con chung là Lê Thành N sinh năm 2006. Khi ly hôn anh L
xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy từ khi ly thân cho tới nay, cháu N sống với anh L được chăm sóc chu đáo, đồng thời nguyện vọng của cháu N là được sống với anh L, do đó cần giao cháu N cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện cho cháu phát triển toàn diện về tinh thần và thể chất và không làm ảnh hưởng cuộc sống ổn định của cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu N cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi
- 3 -
con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về vấn đề cấp dưỡng.
Về tài sản chung:
Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem
xét giải quyết.
Về nợ chung:
Anh L không yêu cầu Tỏa án xem xét giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt
ra xem xét giải quyết.
Về án phí:
Anh L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung vụ án,đề nghị áp dụng các Điều 51, 56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia
đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L, cho anh L ly hôn với chị T, về con chung đề nghị giao con chung cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết do không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội ngày 30/12/2016.
Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn anh Lê Quang L:
cho anh Lê Quang L được ly hôn với chị Nguyễn Ngọc T
- Về con chung:
Giao cháu Lê Thành N sinh năm 2006 cho anh Lê Quang L trực tiếp nuôi dưỡng,
chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí:
Anh L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu
trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh L đã nộp theo biên lai số 0021829 ngày 06/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành nên xem như anh L đã nộp xong án phí.
Anh L, chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- 4 -
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Châu Thành - Chi cục THADS huyện Châu Thành - UBND xã S.T, Châu Thành - Đương sự -Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Tường |