vanban.org

Bản án 484/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 30/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/8/2020;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Bằng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/8/2020;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND TỈNH TN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TAND TP TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 484/2020/HSST
Ngày: 30/10/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Phượng 2. ông Trần Xuân Viện

Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Huyền Nhung – Thư ký Toà án nhân dân TP TN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thu Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TN, Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 478/2020/HSST ngày 12/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 501/QĐXXST - HS ngày 14/10/2020 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Ngô văn B; Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1979;Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Xóm CT, xã PX, thành phố TN, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Ngô Văn D, sinh năm 1957; Con bà: Lương Thị M, sinh năm 1957; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Vũ Thị Như Q, sinh năm 1986 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2004.

- Tiền án: Tại bản án số 46/2019/HSST ngày 28/02/2019, Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 21/02/2020.

- Tiền sự: Ngày 20/9/2018 Công an thành phố TN xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt)

- Nhân thân: Không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2020). (Có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm CS, xã SC, thành phố TN, TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/8/2020, tổ công tác của công an xã SC, thành phố TN làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Đồng Danh, xã SC, thành phố TN thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, người đàn ông tự khai là Ngô Văn B. Quá trình kiểm tra, B tự giác lấy từ lòng bàn tay trái 02 gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng (B khai là Heroine mua để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô Văn B và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố TN đã tiến hành mở niêm phong, cân toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của B có khối lượng 0,112 gam lấy mẫu vật gửi đi giám định ký hiệu B1.

Tại bản kết luận giám định số 1071 ngày 23/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,112 gam.

Tại Cơ quan điều tra Ngô Văn B khai nhận: Khoảng 7 giờ 10 phút ngày 15/8/2020, B đi xe ôm từ nhà đến khu vực Công ty gạch thuộc xóm Đồng Xe, xã SC, thành phố TN để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, B gặp và mua 02 gói Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 100.000 đồng. Sau đó B cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, đi bộ tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã SC phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận của Ngô Văn B phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì niêm phong ký hiệu B1 (Bên trong chứa chất ma túy).

Hiện vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứngcủa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 488/CT- VKSTPTN, ngày 09/10/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã truy tố Ngô Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Ngô Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu B1 (bên trong có chứa chất ma túy).

- Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Văn B tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 8 giờ 30 phút ngày 15/8/2020, tại xóm Đồng Danh, xã SC, thành phố TN, Ngô Văn B có hành vi tàng trữ 0,112 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã SC phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng. Hành vi của Ngô Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:

- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây mất ANTT tại địa phương. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có 01 tiền án do chưa được xóa án tích bị cáo lại tiếp tục phạm tội vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, 01 tiền sự, tuy nhiên tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS.

. Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo, xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa bị cáo xác định không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu: B1bên trong có chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu, mặt sau có chữ ký Trần Đức Thủy và Vũ Thị Loan cùng dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh TN.

. Các vấn đề khác: Nguồn gốc sốma túy bị thu giữ, B khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch địa chỉ tại khu vực công ty Gạch thuộc xóm Đồng Xe, xã SC, thành phố TN.Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không có cơ sở làm rõ để xử lý.

. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn B: 24 ( Hai mươi tư) tháng tù về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/8/2020;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu: B1bên trong có chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu, mặt sau có chữ ký Trần Đức Thủy và Vũ Thị Loan cùng 02 dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh TN.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 16 ngày 08/10/2020).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ