- Tranh chấp gì? án hình sự — "CNTHCV - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 482/2025/HS-ST Ngày: 10 - 12 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đăng Vạn.
2. Bà Nguyễn Thị Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Mùi – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 400/2025/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 517/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 26/01/1994; tại: tỉnh Vĩnh Long; Hộ khẩu thường trú: Số nhà A, Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn M, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em. Vợ: chưa có; con: có 01 con sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/07/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Đại úy Hồ Thành T1, sinh năm 1989, hiện công tác tại Đ thuộc Phòng C .
Địa chỉ: Số nhà B N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Tổ B, Ấp B, X, T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 07/07/2025, Tổ tuần tra kiểm soát số 06 - Đội Cảnh sát Giao thông Đ thuộc Phòng Cảnh sát Giao thông Công an Thành phố C gồm các anh Hồ Thành T1, Nguyễn Quốc H đang làm nhiệm vụ tại trước giao lộ đường N và đường số G, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Kế hoạch công tác tuần số 02/KHCT-Cla ngày 04/7/2025 của đội Đ (thuộc phòng CSGT công an Thành phố C) phát hiện Trần Văn T đang điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển số: 60B8-37145 có biểu hiện nghi vấn nên đã ra tín hiệu yêu cầu T dừng xe để kiểm tra. Trong quá trình làm việc, T không xuất trình được Căn cước công dân, giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe. Khi được yêu cầu mở cốp yên xe và xuất trình giấy tờ nhưng T không chấp hành, có những lời lẽ thách thức và xúc phạm các thành viên trong tổ tuần tra, sau đó T dùng tay trái vung lên làm rơi máy đo nồng độ cồn nhãn hiệu Prodigy 2S, số ID: 876946 của anh T1 đang cầm trên tay phải, tiếp đó dùng tay phải đánh 01 (một) cái vào vùng cằm dưới mang tai bên trái của anh T1. Thấy vậy, anh H đã đến khống chế T rồi bàn giao cho Công an phường L, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý (BL 04-20).
Kết quả kiểm tra, T có nồng độ cồn 0,982mg/l khí thở (BL77).
Tại Cơ quan Công an, Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. (Bút lục: 04-20)
Sau khi xảy ra sự việc, không có thiệt hại về tài sản, anh Hồ Thành T1 bị chấn thương phần mềm vùng má và góc hàm trái và có đơn từ chối giám định thương tích (BL75).
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển số 60B8-37145 của Trần Văn T là phương tiện vi phạm hành chính, hiện phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố C đang tạm giữ để xử lý theo quy định (BL78-80);
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53 kiểu máy: CPH 2127, màu xanh đã qua sử dụng;
- 01 nón vải màu trắng đã qua sử dụng;
- 01 áo khoác đen dài tay màu đen đã qua sử dụng;
- 01 quần Jean ngắn màu xanh đã qua sử dụng.
- 01 (một) USB ghi lại nội dung sự việc (lưu theo hồ sơ vụ án).
Tại Bản cáo trạng số 31/CT-VKSKV2 ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, xét việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vấn tiến hành xét xử vụ án.
Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 07/7/2025, tại giao lộ N, đường số G, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn T có hành vi điều khiển xe tham gia giao thông có sử dụng rượu, bia, nồng độ cồn 0,982 mg/l khí thở. Không chấp hành hiệu lệnh yêu cầu kiểm tra, có lời lẽ thách thức, xúc phạm lực lượng thi hành công vụ thuộc tổ công tác số 06 thuộc Đội Cảnh sát Giao thông Đ -Phòng Cảnh sát Giao thông Công an Thành phố C, T gạt tay làm rơi máy đo nồng độ cồn nhãn hiệu Prodigy 2S, số ID: 876946 của anh Hồ Thành T1 đang cầm trên tay phải và đánh vào vùng cằm trái của anh T1 gây chấn thương phần mềm nhẹ vùng má trái.
Hành vi của bị can là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước, xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ.
Đối với hành vi dùng tay đánh anh Hồ Thành T1 bị chấn thương phần mềm vùng má và góc hàm trái, tuy nhiên anh T1 có đơn từ chối giám định thương tích nên không đủ cơ sở xử lý hình sự đối với T.
Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt:
Bị cáo bị truy tố, xét xử tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:
Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công, làm gia tăng tình trạng coi thường pháp luật, coi thường kỷ cương phép nước tại địa phương và đang là vấn đề bức xúc cần phải xử lý nghiêm để kéo giảm tình trạng chống người thi hành công vụ nói chung. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và bảo đảm việc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển số 60B8-37145. Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là phương tiện bị cáo dùng để tham gia giao thông không liên quan đến vụ án này nên cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn M1.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53 kiểu máy: CPH 2127, màu xanh đã qua sử dụng; Hồi đồng xét xử xét thấy: Đây là điện thoại do bị cáo sử dụng để liên lạc không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
- 01 nón vải màu trắng đã qua sử dụng; 01 áo khoác đen dài tay màu đen đã qua sử dụng; 01 quần Jean ngắn màu xanh đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại và cũng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) USB hiệu Kingston, màu bạc, dung lượng 16G ghi lại nội dung sự việc nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025:
Xử phạt bị cáo Trần Văn T: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn M1: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển số 60B8-37145.
(Theo biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề số 0021391, Quyển số: BL/0000428 và biên bản niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo thủ tục hành chính số 0023589, Quyển số: AV/0000674 của phòng C, Công an Thành phố C)
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53 kiểu máy: CPH 2127, màu xanh đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 nón vải màu trắng đã qua sử dụng; 01 áo khoác đen dài tay màu đen đã qua sử dụng; 01 quần Jean ngắn màu xanh đã qua sử dụng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKSTKV2 ngày 22/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh và Biên bản giao nhận tang tài vật số 041BB2/26 ngày 28/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh).
- Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) USB hiệu Kingston, màu bạc, dung lượng 16G.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Văn T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh; - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2-TPHCM; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Xuân Dũng |