vanban.org

Bản án 481/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng T và bà Thiên K tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 481/2025/DS-ST
Ngày: 03-09-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hùng Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa

2. Bà Nguyễn Thị Én

- Thư ký phiên tòa: bà Trịnh Thị Thục Đoan, thư ký Tòa án nhân dân khu

vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: bà Trương Thị Xuân - Kiểm Sát viên.

Ngày 03 tháng 09 năm 2025, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 7 –

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

1041/2024/DSST ngày 16 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 367/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 07 năm

2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1175/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 08 năm

2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng T;

Địa chỉ trụ sở: Số A, đường N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: ông Dương Văn T, sinh năm: 1987;

giấy ủy quyền số 1895/2024/UQ-TT.XLN ngày 01/11/2024 của Ngân hàng T. (Có đơn

xin vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thiên K, sinh năm: 1976;

Địa chỉ cư trú: Số B, đường K, phường H (trước đây là phường D, quận G),

Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/06/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết

vụ án, Ngân hàng T (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có ông Dương Văn T là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 24/3/2022, bà Nguyễn Thị Thiên K có ký với Ngân hàng T (gọi tắt là

Ngân hàng) hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Nguyễn Thị Thiên K, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 100,000,000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Thiên K đã thực hiện các giao

dịch với tổng số tiền là 1.320.939.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Nguyễn Thị Thiên K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.231.689.180 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Thị Thiên K vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Nguyễn Thị Thiên K vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 05/02/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 03/9/2025, bà Nguyễn Thị Thiên K còn nợ các khoản sau:

- Dư nợ gốc: 109.447.134 đồng

- Lãi quá hạn: 78.234.624 đồng

- Tổng cộng: 187.681.758 đồng

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà Nguyễn Thị Thiên K có trách nhiệm thanh

toán các khoản nợ nêu trên, tuy nhiên bà Nguyễn Thị Thiên K vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại hợp đồng đã ký.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thị Thiên K trả một lần toàn bộ số nợ trên

và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 04/09/2025 theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ. Ngoài ra Ngân hàng không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.

Bà Nguyễn Thị Thiên K đã được được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố

tụng của Tòa án để triệu tập bà Nguyễn Thị Thiên K đến Tòa để ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng bà Nguyễn Thị Thiên K không đến Tòa, không cung cấp chứng cứ và không có ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Như vậy, bà Nguyễn Thị Thiên K tự từ bỏ quyền được pháp luật bảo vệ. Bà Nguyễn Thị Thiên K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng có đơn xin vắng mặt và gửi bản

tự khai vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

- Bà Nguyễn Thị Thiên K vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán,

Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm

phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm

quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ; thực hiện việc gửi

các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện

đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng

như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật

tố tụng dân sự.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng

xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,

sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh

phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng

- Về quan hệ tranh chấp:

Ngân hàng T và bà Nguyễn Thị Thiên K đã ký với nhau hợp đồng sử dụng thẻ

tín dụng. Do bà Nguyễn Thị Thiên K vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi

kiện. Căn cứ Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp về hợp đồng tín

dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thiên K có địa chỉ cư trú tại phường H, (trước đây là

phường D, quận G) Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, theo quy định tại điểm a khoản 1

Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân Khu

vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

- Về người tham gia tố tụng:

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng

cho bà Nguyễn Thị Thiên K. Tuy nhiên bà Nguyễn Thị Thiên K vẫn vắng mặt tại

phiên tòa lần thứ 2. Như vậy, việc bị đơn vắng mặt được xem là từ bỏ quyền trình bày,

đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó,

căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử

vắng mặt bà Nguyễn Thị Thiên K.

2. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng:

- Về yêu cầu bà Nguyễn Thị Thiên K thanh toán số tiền còn nợ thẻ tín dụng.

Căn cứ vào hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín

dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng T – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) ngày 24/03/2022 được ký giữa bà Nguyễn Thị Thiên K với Ngân hàng T; cho thấy việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là có thật, nội dung mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật tại các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ hợp đồng tín dụng và các bản sao kê mà Ngân hàng cung cấp thể hiện

bà Nguyễn Thị Thiên K có thực hiện giao dịch với Ngân hàng. Tính đến ngày 03/9/2025, bà Nguyễn Thị Thiên K còn nợ tổng số tiền 187.681.758 đồng cụ thể như sau:

- Dư nợ gốc: 109.447.134 đồng

- Lãi quá hạn: 78.234.624 đồng

Do bà Nguyễn Thị Thiên K không thanh toán đúng hạn số tiền qua các lần giao

dịch nên phát sinh lãi suất, các loại phí theo thỏa thuận trong hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở bà Nguyễn Thị Thiên K thanh toán số tiền còn nợ nhưng bà Nguyễn Thị Thiên K vẫn không thực hiện. Do bà Nguyễn Thị Thiên K vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên ngày 05/02/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Như vậy, bà Nguyễn Thị Thiên K đã vi phạm về thời hạn thanh toán, theo như thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, nên Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thị Thiên K trả số tiền còn nợ là có căn cứ.

- Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của Ngân

hàng. Xét thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận.

- Hội đồng xét xử xét thấy, lãi suất và phí của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

ngày 24/3/2022 mà các bên đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật. Do bà Nguyễn Thị Thiên K vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong hợp đồng, gây ảnh

hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên yêu cầu khởi kiện của Ngân

hàng là có căn cứ chấp nhận. Vì các lẽ trên bà Nguyễn Thị Thiên K phải thanh toán 01

lần cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 12/9/2024 là 187.681.758 đồng (trong

đó nợ gốc là 109.447.134 đồng; lãi quá hạn: 78.234.624 đồng); kể từ ngày 04/9/2025,

bà Nguyễn Thị Thiên K tiếp tục trả lãi phát sinh trên nợ gốc còn nợ theo thỏa thuận tại

hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Do toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận. Ngân hàng không phải

chịu án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp; bà Nguyễn Thị Thiên K phải

chịu án phí là 9.384.088 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158,

Điều 227, Điều 228, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sử đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T.

Buộc bà Nguyễn Thị Thiên K phải thanh toán cho Ngân hàng T số tiền tạm tính

đến ngày 03/09/2025 là 187.681.758 đồng (một trăm tám mươi bảy triệu sáu trăm tám

mươi mốt ngàn bảy trăm năm mươi tám đồng). (trong đó nợ gốc là: 109.447.134 đồng;

lãi quá hạn là: 78.234.624 đồng).

Kể từ ngày 04/09/2025, bà Nguyễn Thị Thiên K tiếp tục trả lãi phát sinh theo

thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.

Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có

hiệu lực pháp luật, thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền

2. Về án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Thiên K phải chịu số tiền án phí là 9.384.088 đồng (Bằng chữ:

chín triệu ba trăm tám mươi tư ngàn không trăm tám mươi tám đồng).

Hoàn lại cho Ngân hàng T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.187.793 đồng (Bằng

chữ: ba triệu một trăm tám mươi bảy ngàn bảy trăm chín mươi ba đồng) theo biên lai thu số 0014674 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại

Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án; bà Nguyễn Thị Thiên K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ