vanban.org

Bản án 48

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "vụ án - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án 48/2021/HS-ST;
Ngày: 10-6-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Phan Thị Đẹp;

2/ Ông Nguyễn Thanh Sang.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Phạm Vân Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho – tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Tống Việt Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2021/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Quang Minh L (tên gọi khác Lâm H), sinh năm 1992 tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú và chổ ở: số 118 ấp Xóm V, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Thợ Sơn; trình độ học vấn 09/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Quang M hải đã chết và bà Võ Thị Ngọc D sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ chưa có con; tiền sự: Không có; tiền án: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/11/2020, tạm giam từ ngày 23/11/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Mỹ Tho. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Văn Thiên T, sinh năm 1992 (có mặt);

Nơi cư trú: ấp Xóm V, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Hiện đang bị tạm giam tại Tại tạm giam công an tỉnh Tiền Giang.

2. Ngô Văn T1, sinh năm 1977 (có mặt);

Nơi cư trú: số 310/1 ấp T, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

3. Lê Thanh T2, sinh năm 1992 (vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp 1, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

* Người làm chứng:

- Nguyễn Văn B, sinh năm 1963 (vắng mặt);

- 2 -

Nơi cú trú: ấp Đ, xã T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Nguyễn Văn T3, sinh năm 1969 (vắng mặt); Nơi cú trú: tổ 7 ấp Đ, xã T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Nguyễn Văn H, sinh năm 1952 (có mặt); Nơi cư trú: ấp Xóm V, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Quang Ngọc M, sinh năm 1981 (vắng mặt); Nơi cư trú: số 118 ấp Xóm V, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 09 giờ 05 phút ngày 17/11/2020, tại đường bê tông thuộc tổ 1, ấp Đ, xã T, thành phố Mỹ Tho, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tiền Giang phối hợp Công an xã T, thành phố Mỹ Tho chặn dừng xe mô tô biển số 63F7-9285 do Quang Minh L điều khiển, qua kiểm tra bắt quả tang bị cáo L đang cất giữ trái phép 02 bịch ma túy để trong túi quần jean phía trước, bên phải L đang mặc trên người. Đến 11 giờ 10 phút cùng ngày, tiếp tục khám xét nhà của bị cáo L tại địa chỉ số 118 ấp Xóm V, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang thu giữ 01 bịch ma túy được để trong hộc dùng chứa đồ ở đầu giường ngủ bằng gỗ trong phòng của bị cáo L cùng dụng cụ sử dụng ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 02 bịch nylon màu trắng có viền màu đỏ dán kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng được cho vào gói niêm phong dạng bao thư màu trắng có chữ ký ghi họ tên Quang Minh L, người chứng kiến Nguyễn Văn T, Điều tra viên Trần Tấn Đ và dấu mộc tròn màu đỏ của Công an xã T, thành phố Mỹ Tho trên gói nêm phong (Ký hiệu 1); 01 bịch nylon màu trắng có viền màu xanh dán kín, kích thước (5x4)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng được cho vào gói niêm phong dạng bao thư màu trắng có chữ ký ghi họ tên Quang Minh L, người chứng kiến Nguyễn Văn H, Điều tra viên Trần Tấn Đ và dấu mộc tròn màu đỏ của Công an xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang trên gói nêm phong (Ký hiệu 2); 01 điện thoại di động màu đen có chữ Itel model: it 2161 của bị can Lâm; Một xe mô tô biển số 63F7-9285; 01 kéo bằng kim loại màu trắng dài 11cm, lưỡi kéo dài 03cm; 01 ống nhựa tròn màu trắng có một đầu được cắt nhọn, dài 10,5cm, đường kính 0,6cm; 01 cây tiêm dài 15,5cm, gồm một bộ phận của ống quẹt gas dài 06cm và một ống màu trắng dài 9,5cm;

- 3 -

01 bình dùng để sử dụng ma túy đá gồm một chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh trên nắp có gắn một ống nhựa màu trắng và một ống thủy tinh màu trắng có đoạn uống cong và một đầu phình to.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 233 ngày 19/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:

Gói 1: Các mẫu tinh thể màu trắng trong 02 (hai) gói nylon màu trắng được hàn kín, có viền màu đỏ một đầu, để trong một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu 1) có các chữ ký ghi họ tên: Quang Minh L, Nguyễn Văn T, Trần Tấn Đ và dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ TRUNG AN – CÔNG AN THÀNH PHỐ MỸ THO – TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định điều là ma túy, có tổng khối lượng: 19,5532 gam, loại Methamphetamine.

Gói 2: Các mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín, có viền màu xanh một đầu, để trong một bì thư màu trắng được niêm phong (ký hiệu 2) có các chữ ký ghi họ tên: Quang Minh L, Nguyễn Văn H, Trần Tấn Đ và dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ THẠNH PHÚ – HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 1,8069 gam, loại Methamphetamine.

Đối với mẫu ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng, tài sản có liên quan, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho chờ xử lý.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Quang Minh L khai nhận: Bản thân bị cáo bắt đầu sử dụng ma túy từ khoảng tháng 5/2020. Khoảng 19 giờ ngày 16/11/2020, bị cáo L đến nhà Lê Văn Thiên T, sinh năm 1992, ngụ ấp Xóm V, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang chơi, T đưa cho bị cáo L 03 bịch ma túy đá nhờ bị cáo L cất giữ, sáng hôm sau có ai gọi điện thì giao dùm, bị cáo L đồng ý. Sáng ngày 17/11/2020, có một người nữ tên T (không rõ họ tên, địa chỉ) gọi điện cho bị cáo L nói bị cáo L giao 02 bịch ma túy. Bị cáo L lấy 01 bịch ma túy bỏ vào hộc phải trên đầu giường trong phòng ngủ của bị cáo L cất giữ, 02 bịch ma túy còn lại bị cáo L cất giữ trong túi quần jean, bên phải đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô biển số 63F7-9285 đi đến đường bê tông thuộc ấp Đ, xã Trung An, thành phố Mỹ Tho để giao ma túy cho T nhưng chưa kịp giao thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Đối với đối tượng Lê Văn Thiên T, bị cáo L khai nguồn gốc 03 bịch ma túy bị thu giữ là của T nhờ bị cáo L giao dùm nhưng T không thừa nhận và cũng không có căn cứ chứng minh T có đưa ma túy cho bị cáo L và người nữ tên T gọi điện thoại cho bị cáo L, bị cáo L khai không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSMT ngày 22 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Quang Minh L về tội “Tàng trữ

- 4 -

trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 và điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Quang Minh L từ 07 năm tù đến 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy: Một bìa thư được niêm phong có ký hiệu số vụ 233/1 ghi ngày 19/11/2020 có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu H (trợ ý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Triều Vĩ (bên nhận) và hình tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; Một bìa thư được niêm phong có ký hiệu số vụ 233/2 ghi ngày 19/11/2020 có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu H (trợ ý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Triều V (bên nhận) và hình tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; Một kéo bằng kim loại màu trắng dài 11 cm, lưỡi kéo dài 03 cm; Một ống nhựa tròn màu trứng có một đầu được cắt nhọn, dài 10,5 cm, đường kính 0,6 cm; Một cây tiêm dài 15,5 cm gồm một bộ phận của ống quẹt gas dài 06 cm và một ống màu trắng dài 9,5 cm; Một bình dùng để sử dụng ma túy đá gồm một chai nhựa màu trắng có nắm màu xanh trên nắp có gắn một ống nhựa màu tắng và ống thủy tinh màu tắng có đoạn ống uốn cong và một đầu phình to. Trả lại cho Lê Thanh T1 một xe mô tô biến số 63F7-9285, màu đỏ, số máy 152FMH*Y0592247, không kính chiếu hậu, xe trầy xuốc, hư hỏng, không nổ máy, không kiểm tra tình trạng bên trong máy. Lời tự bào chữa của bị cáo Quang Minh L: Bị cáo đã biết lỗi của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Mỹ Tho, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình

- 5 -

tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Mặc dù, các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Trong quá trình điều tra, người tham gia tố tụng nêu trên đã có lời khai cụ thể, đầy đủ, rõ ràng. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây khó khăn cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 và Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sư, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng theo thủ tục chung.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua lời khai của bị cáo, lời khai của những người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác thu giữ được đã đủ cơ sở để kết luận: Lúc 09 giờ 05 phút ngày 17/11/2020, tại đường bê tông thuộc Tổ 1, ấp Đ, xã T, thành phố Mỹ Tho và lúc 11 giờ 10 cùng ngày, tại nhà của Quang Minh L địa chỉ số 118 ấp Xóm V, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tiền Giang phối hợp Công an xã T, thành phố Mỹ Tho và công an xã T, huyện Châu Thành bắt quả tang bị cáo Quang Minh L đang tàng trữ trái phép 21,3601 gam ma túy, loại Methamphetamine nên bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự. Xét hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng cho bản thân của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng coi thường pháp luật, để phục vụ và đáp ứng nhu cầu của cá nhân nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Quang Minh L ra trước tòa án để xem xét về tội danh và điều luật như đã nêu trên là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Đối với Lê Văn Thiên T, bị cáo L khai nguồn gốc 03 bịch ma túy bị thu giữ là của T nhờ bị cáo L giao dùm nhưng T không thừa nhận và cũng không có căn cứ chứng minh T có đưa ma túy cho bị cáo L và người nữ tên T1 gọi điện thoại cho bị cáo L, bị cáo L khai không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo L không có tiền án và không có tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo L thật thà khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng năng: Không có

- 6 -

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với một bìa thư được niêm phong có ký hiệu số vụ 233/1 ghi ngày 19/11/2020 có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu H (trợ ý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Triều V (bên nhận) và hình tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG là số ma túy còn lại sau giám định nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với một bìa thư được niêm phong có ký hiệu số vụ 233/2 ghi ngày 19/11/2020 có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu H (trợ ý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Triều V (bên nhận) và hình tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG là số ma túy còn lại sau giám định nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với một kéo bằng kim loại màu trắng dài 11 cm, lưỡi kéo dài 03 cm; Một ống nhựa tròn màu trứng có một đầu được cắt nhọn, dài 10,5 cm, đường kính 0,6 cm; Một cây tiêm dài 15,5 cm gồm một bộ phận của ống quẹt gas dài 06 cm và một ống màu trắng dài 9,5 cm; Một bình dùng để sử dụng ma túy đá gồm một chai nhựa màu trắng có nắm màu xanh trên nắp có gắn một ống nhựa màu tắng và ống thủy tinh màu tắng có đoạn ống uốn cong và một đầu phình to là các dụng cụ dùng để xử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô biển số 63F7-9285. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô trên do chị Ngô Thị L đứng tên chủ sở hữu vào năm 2000 (hiện chị L đã đi định cư ở Malaysia). Sau khi mua xe một thời gian, chị L đã cho anh ruột là Ngô Văn T. Đến 2010, anh T đã bán xe trên cho một thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ nhà ở xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, hiện anh T không có yêu cầu gì đối với mô tô biển số 63F7-9285. Tại cơ quan điều tra bị cáo L khai, xe mô tô là của anh rể tên Lê Thanh T1 cho bị cáo L mượn để làm phương tiện đi lại. Qua điều tra anh T1 trình bày xe mô tô biển số 63F7-9285 anh T1 mua của một người không rõ họ tên, địa chỉ nhà ở xã Thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào năm 2010, lúc mua không có làm giấy mua bán, bên bán chỉ đưa cho anh Giấy chứng nhận đăng ký xe do Ngô Thị L đứng tên chủ sở hữu. Khoảng tháng 5/2020 anh đánh rơi mất bóp tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, trong đó có Giấy chứng nhận đăng ký xe. Nay anh Lê Thanh T1 yêu cầu nhận lại xe mô tô biển số 63F7-9285 nên cần trả lại cho Lê Thanh T1 một xe mô tô biến số 63F7-9285, màu đỏ, số máy 152FMH*Y0592247, không kính chiếu hậu, xe trầy xuốc, hư hỏng, không nổ máy, không kiểm tra tình trạng bên trong máy. [7] Lời đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên. [8] Về án phí: Bị cáo Quang Minh L phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;

- 7 -

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Quang Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51, và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Quang Minh L 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ tạm giữ là ngày 17 tháng 11 năm 2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: Một bìa thư được niêm phong có ký hiệu số vụ 233/1 ghi ngày 19/11/2020 có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu H (trợ ý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Triều Vĩ (bên nhận) và hình tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; Một bìa thư được niêm phong có ký hiệu số vụ 233/2 ghi ngày 19/11/2020 có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu H (trợ ý giám định), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Triều V (bên nhận) và hình tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; Một kéo bằng kim loại màu trắng dài 11 cm, lưỡi kéo dài 03 cm; Một ống nhựa tròn màu trứng có một đầu được cắt nhọn, dài 10,5 cm, đường kính 0,6 cm; Một cây tiêm dài 15,5 cm gồm một bộ phận của ống quẹt gas dài 06 cm và một ống màu trắng dài 9,5 cm; Một bình dùng để sử dụng ma túy đá gồm một chai nhựa màu trắng có nắm màu xanh trên nắp có gắn một ống nhựa màu tắng và ống thủy tinh màu tắng có đoạn ống uốn cong và một đầu phình to.

Trả lại cho Lê Thanh T1 một xe mô tô biến số 63F7-9285, màu đỏ, số máy 152FMH*Y0592247, không kính chiếu hậu, xe trầy xuốc, hư hỏng, không nổ máy, không kiểm tra tình trạng bên trong máy.

Hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đang giữ toàn bộ các vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 5 năm 2021.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Quang Minh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ