- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Như S lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Hoàng Nhƣ S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 133 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48 /2019/HS-ST Ngày: 22 -10 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG SƠN – HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Lƣợng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Thắng
Ông Bùi Anh Xứng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Lợi - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Lƣơng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyên - kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lƣơng Sơn xét xử sở thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2019/TLST - HS ngày 13 tháng 9 năm 2019 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST - HS ngày 07 /10 /2019 đối với bị cáo:
Hoàng Nhƣ S, sinh năm 1990 - Tên gọi khác: Không; Trú tại: Tổ dân phố số 04, phƣờng X, quận N, TP Hà Nội; chỗ ở: Tổ 04, phƣờng C, TP Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Quốc D và con bà Nguyễn Thị H; có vợ , 01 con; Tiền án có 02 tiền án.
-Ngày 13/10/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, TP Hà Nội áp dụng điểm a,c,i khoản 2 Điều 104 BLHS xử phạt 27 tháng tù về tội “ Cố ý gây thƣơng tích”.
- Ngày 12/01/ 2011, bị Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, Hà Nội áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “ Cƣớp tài sản”
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/4/2019 đến ngày 14/4/2019 đƣợc tại ngoại. Hiện đang chấp Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú.
Người bị hại:
Anh Bùi Văn L, sinh năm 1997
Cƣ trú: Xóm T, xã H, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Người làm chứng:
Anh Đinh Công L, sinh năm 1997
Cƣ trú: Xóm T, xã H, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 11 giờ ngày 19/11/2018, Bùi Văn L đến phòng trọ của anh Đinh Công L ở thôn N, xã H, huyện Lƣơng Sơn để chơi, thì gặp Hoàng Nhƣ S đang ở đó. S bảo L lấy xe mô tô trở ra Thị trấn X để lấy điện thoại nhƣng không lấy đƣợc điện thoại. Khi quay về phòng trọ của L thì S hỏi mƣợn xe mô tô của L để đi giải quyết việc riêng. L đồng ý cho S mƣợn xe mô tô của mình mang( BKS : 28B1 – 19800, màu sơn đỏ - đen. Sau đó S mƣợn thêm của L 100.000 đồng và L đƣa thêm cho S 50.000 đồng để nhờ đổ xăng. S điều khiển xe mô tô của L ra X rồi đi Hà Nội. Sau khi chờ không thấy S về, L đã gọi điện, nhắn tin yêu cầu S mang xe về để trả lại cho L. S nghe máy và bảo đang ở nhà nghỉ Tân Bình thuộc khu vực Thị trấn X, hẹn mang xe về trả nhƣng sau đó không về trả xe mà đi ra Hà nội. Ba ngày sau S mang xe của L cầm cố cho Nguyễn Trung H, trú tại ngõ 402, Bạch M, phƣờng B, quận Hai Bà Trƣng, TP Hà Nội lấy 3.000.000đồng( Ba triệu đồng) để tiêu xài. Một thời gian sau, Lạnh gọi điện cho S để yêu cầu trả xe, S hẹn gặp L đến khu vực K, Hà Nội để lấy xe nhƣng không gặp đƣợc S.
Ngày 19/01/ 2019, Hội đồng định giá tài sản huyện Lƣơng Sơn kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHAEXCITEP, màu sơn đỏ- đen, BKS 28B1 – 19800 có giá trị là 29.000.000đồng( Hai chín triệu đồng)
Bản cáo trạng số 45 /CT - VKS ngày 06/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn truy tố Hoàng Nhƣ S về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ” theo điểm g khoản 2 Điều 175 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng điểm g khoản 2 Điều 175 , điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 40 đến 60 tháng tù.
Về trách dân sự: Đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận bồi thƣờng giữa bị cáo và ngƣời bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lƣơng Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Nhƣ S đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với cáo trạng cùng với lời khai của ngƣời bị hại và ngƣời làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo thể hiện:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 29/ 11/2018, tại nhà trọ ở thôn N, xã H, huyện Lƣơng Sơn bị cáo mƣợn xe mô tôYAMAHAEXCITEP BKS 28B1 - 19800 của anh Bùi Văn L. Sau khi mƣợn đƣợc xe mô tô, bị cáo đã nảy ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô, và đã đem đi cầm cố lấy số tiền 3.000.000 đồng để chỉ tiêu cá nhân hết.
Nhƣ vậy hành vi của bị cáo mƣợn xe máy đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài đã cấu thành thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đồng thời bị cáo có hai tiền án chƣa đƣợc xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn nên phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã lợi dụng sự tin tƣởng của ngƣời bị hại để chiếm đoạt tài sản, đồng thời bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị kết án chƣa đƣợc xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tƣợng không chịu tu đƣỡng bản thân mà liên tục phạm tội. Do vậy cần phải có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo. Tuy nhiên HĐXX cũng xét thấy bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú tại cơ quan công an, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 BLHS cần áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6 ] Trong vụ án này có đối tƣợng Nguyễn Trung H là ngƣời mà bị cáo khai đã cầm cố xe máy cho bị cáo. Tuy nhiên qua điều tra xác minh, hiện đối tƣợng H không có mặt tại địa phƣơng và không xác định đƣợc hiện đang ở đâu, do vậy cơ quan điều tra tách ra để xác minh làm rõ sau là phù hợp.
Về Trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh Bùi Văn L mang đi cầm cố, hiện không thu hồi đƣợc chiếc xe. Tại phiên tòa bị cáo và anh Bùi Văn L thỏa thuận bị cáo bồi thƣờng cho anh L giá trị chiếc xe là 29.000.000 đồng. Xét thỏa thuận này là tự nguyện phù hợp với quy định pháp luật nên cần công nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo: Hoàng Nhƣ S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng điểm g khoản 2 điều 175, điểm s khoản 1, 2 điều 51,điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Nhƣ S 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù. Đƣợc trừ 9 ngày bị tạm giữ, thời hạn còn lại phải chấp hành là 4 năm 5 tháng 21 ngày.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 điều 46 LHS, điều 589 BLDS.
- Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Hoàng Nhƣ S và anh Bùi Văn L, cụ thể bị cáo Hoàng Nhƣ S bồi thƣờng cho anh Bùi Văn L số tiền là 29.000.000 (Hai chín triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu của ngƣời đƣợc thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án không trả khoản tiền nêu trên cho ngƣời đƣợc thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 điều 357 Bộ luật dân sự, tƣơng ứng với thời gian và số tiền chƣa thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội. Bị cáo Hoàng Nhƣ S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.450.000 đồng án phí dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện LS; - C.A huyện LS; - UBND TTLS.; - Bị cáo; - Ngƣời tham gia TT; - Lƣu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Kim Lượng |