vanban.org

Bản án 48/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao Cphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/10/2025. Phạt tiền bị cáo Nguyễn Cao C số tiền 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Cao Cường phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao Cphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2026/HS-ST
Ngày 05 - 02 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Chu Thị Hồng Nhật;

2. Bà Nguyễn Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2026/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Cao C, sinh năm1979.

Nơi cư trú: thôn T, xã Đông H, tỉnh Hưng Yên; Căn cước công dân số: 034079002120 do Cục Cảnh sát cấp ngày 19/12/202 cấp; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, đã chết và bà Nguyễn Thị C, đã chết; vợ Ma Thị N, sinh năm 1989 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2016. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai;

Nhân thân: Từ tháng 8/1998 đến tháng 12/2000 tham gia nghĩa vụ quân sự, sau đó lao động tự do tại địa phương.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 203 ngày 27/7/2005 Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 100.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép ma tuý. Đã nộp phạt vào ngày 27/7/2005.

Quyết định số 2690 ngày 18/11/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháo đưa vào Trung tâm chữa bệnh - giáo dục-lao động xã hội, thời hạn 12 tháng. Đã chấp hành xong vào ngày 20/9/2011.

Bản án số 13/2015/HSST ngày 12/3/2015 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/9/2015, chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 31/10/2017.

Bản án số 141/2020/HS-ST ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân thanh phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/01/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2021.

Tiền sự: Quyết định số 20/2022/QĐ-TA ngày 21/7/2022 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, thời gian chấp hành là 21 tháng. Nguyễn Cao Cường chấp hành xong ngày 05/5/2024.

Tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/10/2025 đến ngày 13/10/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh Hưng Yên. (Trích xuất có mặt tại phiên toà).

* Người chứng kiến:

- Anh Trần Văn M, sinh năm 1968. (vắng mặt)

- Ông Tô Văn D, sinh năm1957. (vắng mặt)

Đều cư trú: tổ 04, phường T, tỉnh Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 07/10/2025, Nguyễn Cao C đi bộ ra đường quốc lộ bắt xe ôm của người đàn ông không quen biết đến Cống Trắng thuộc phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên với mục đích mua ma túy, loại Heroin về sử dụng. Đến nơi, C xuống xe đi bộ, gặp và mua 01 gói ma túy của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng, C cất giấu vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, C đi đến chân cầu Độc Lập thuộc tổ 04, phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên, bị tổ công tác Công an phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên phát hiện có nghi vấn liên quan đến ma tuý nên yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Trần Văn M, sinh ngày 26/02/1968 và ông Tô Văn D, sinh ngày 08/8/1957, đều cư trú: tổ 04, phường T, tỉnh Hưng Yên, C tự nguyện giao nộp 01 gói, bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng, mở kiểm tra bên trong chứa chất bột dạng cục, màu trắng, giao nộp cho lực lượng Công an và khai nhận đó là ma tuý của C mua để sử dụng. Sau đó, tổ công tác đưa C cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ theo quy định của pháp luật.

Tại Kết luận giám định số 1403/KL-KTHS ngày 11/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng là 0,2275 gam (Không phẩy hai nghìn hai trăm bảy mươi lăm gam). Heroine STT: 09 danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định số 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.”.

Tại bản cáo trạng số 111/CT - VKSTPTB ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ bị tạm giữ từ ngày 07/10/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Cao C.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1403/KL-KTHS ngày 11/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/10/2025, tại chân cầu Độc Lập thuộc tổ 04, phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên; bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2275 gam (Không phẩy hai nghìn hai trăm bảy mươi lăm gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng, bị tổ công tác Công an phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên lập hồi 21 giờ ngày 07/10/2025; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên lập hồi 20 giờ 45 phút ngày 07/10/2025; Kết luận giám định số 1403/KL-KTHS ngày 11/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến: anh Trần Văn M, sinh ngày 26/02/1968 và ông Tô Văn D, sinh ngày 08/8/1957, đều cư trú: tổ 04, phường T, tỉnh Hưng Yên và phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Cao C đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

a) ….

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

……….

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cầm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện. Ma túy không những làm sa sút sức khỏe, trí tuệ con người, là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo biết tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng vì vậy phải xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng mức độ phạm tội của bị cáo, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Cao C không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo; có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; bố đẻ bị cáo là thương binh và được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Ngoài hình phạt tù trong điều luật còn quy định: Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” và bị xét xử về tội tàng trữ trái phếp chất ma tuý. Bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng do đó cần áp dụng hình bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: 0,1680 gam ma túy, loại Heroine sau giám định hoàn lại đựng phong bì niêm phong số 1403/KL-KTHS ngày 11/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Cao C khai: Khoảng 20 giờ ngày 07/10/2025, C gặp và mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng ở Cống Trắng thuộc phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên không có căn cứ để điều tra, xác minh, xử lý.

[9] Vấn đề khác trong vụ án: Ngày 05/5/2024, Nguyễn Cao C chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”. Ngày 07/10/2025, Công an phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên tiến hành test chất ma tuý trong có thể đối với Nguyễn Cao C, kết quả: âm tính với các chất ma tuý. Vì vậy, không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Cao C về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, 5 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao Cphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/10/2025.

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Cao C số tiền 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1680 gam ma túy, loại Heroine sau giám định hoàn lại đựng phong bì niêm phong số 1403/KL-KTHS ngày 11/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên “ HOÀN TRẢ MẪU VẬT GIÁM ĐỊNH Vật chứng quản lý của Nguyễn Cao C, sinh năm1979, nơi thường trú tại thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên”

(Vật chứng trên được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Hưng Yên quản lý).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Cao C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Cao C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ