- Tranh chấp gì? án hình sự — "Loug Qouc Hyu - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (đi…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt và điều luật áp dụng: căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 6 Điều 12; Điều 119; Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
- Căn cứ chính? Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 119 Luật Tư pháp người; Điều 12 Luật Tư pháp người
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2026/HS-ST Ngày 09 - 7 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Đình Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Hà Thị Thu, nghề nghiệp: nguyên Phó Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và ông Trần Thanh Tuấn, nghề nghiệp: Bí thư Đoàn thanh niên xã Điền Xá, tỉnh Quảng Ninh.
- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Trung Hiếu là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Vũ Văn Tấp - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2026 đối với:
- Bị cáo: Lương Quốc H, sinh ngày 13/10/2007, tại B, Quảng Ninh; số CCCD: 022207012066; nơi cư trú: thôn C, xã B, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn B và bà Hoàng Thị A; vợ con: chưa; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” và “tạm hoãn xuất cảnh”. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: người làm chứng Vi Trọng H1; Hoàng Trung N sinh ngày: 18/3/2011, người đại diện theo pháp luật của Hoàng Trung N là bà Mạ Thị M; Lô Tiến Võ sinh ngày: 17/10/2009, người đại diện theo pháp luật của Lô Tiến V là ông Lô Đức H2 và bà Lý Thị V1; Tằng Dảu Vày sinh ngày: 18/3/2009, người đại diện theo pháp luật của T Dảu V3 là ông Tằng A S và bà Chìu Tài M1; Lăng Gia B1 sinh ngày: 05/01/2010 người đại diện theo pháp luật của Lăng Gia B1 là bà Nông Thị N1; Hà Tiến M2, Chu Chí Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: ngày 18/6/2025, Nông Đức K (sinh ngày 18/6/2011) và Lô Tiến V (sinh ngày 17/10/2009) đều trú tại xã L, tỉnh Quảng Ninh mâu thuẫn cãi chửi nhau, nên nhắn tin cho nhau qua ứng dụng mesenger hẹn gặp nhau tại cầu P, xã L để đánh nhau. Khoảng 23 giờ ngày 22/6/2025, Nông Đức K, gọi điện thoại rủ Trắng Văn Q, Trần Văn Đ1 (sinh ngày 27/01/2010, gọi là Đạo A1), Trần Văn Đ1, (sinh ngày 20/7/2010 gọi là Đạo B); Trần Đức K1 (sinh ngày 14/11/2010), Lý Thành N2, La Thanh N3 (sinh ngày 14/12/2010), Mạ Thành H3, Trắng Mạnh C (sinh ngày 16/4/2010), La Ngọc Q1 (sinh ngày 05/6/2010), Tằng Đức V2 (sinh ngày 30/7/2009), Mạ Quốc L (sinh ngày 18/02/2010), Dương Thanh T1 (sinh ngày 16/11/2010) và Lâm Ngọc P (sinh ngày 16/01/2010) đi đánh nhau, hẹn tập chung tại trường tiểu học N5, xã L, tỉnh Quảng Ninh, cả bọn đồng ý. Khi đi, Đạo A1 mang theo 01 con dao đầu bằng, dài khoảng 50cm; K về nhà lấy 01 con dao quắm dài 38cm, có đầu cong nhọn dài 12cm, rộng 05cm, cán dài 9,5 cm trong bếp rồi mang ra đưa cho Q; Q1 về nhà lấy 01 con dao quắm dài 47cm, rộng 04cm, có đầu cong nhọn dài 10cm, cán dài 20cm của gia đình. Sau đó, K và Q1 tiếp tục đi xe máy đến trường tiểu học N5 để lấy 01 con dao mã tấu được hàn vào 01 cây tuýp sắt dài khoảng 2m; 01 dao phóng lợn có tổng chiều dài 2,3m, phần lưỡi dao dài 20cm, phần cây tuýp sắt dài 2,1m, rồi K đưa cho H3 con dao phóng lợn, đưa Trắng Mạnh C con dao mã tấu; Lý Thành N2 và Q1 cùng đi lấy 01 két vỏ bia chai Hạ Long ở cạnh đường Q gần quán tạp hóa, đoạn thuộc thôn L, xã L, tỉnh Quảng Ninh.
Sau khi chuẩn bị xong, K điều khiển xe mô tô chở Q ngồi sau cầm theo dao quắm; Đạo B chở H3 cầm dao phóng lợn; Đạo A1 chở La Thành N4 cầm 01 con dao đầu bằng; K1 chở T1 và L ngồi phía sau cầm theo vỏ chai bia; Lý Thành N2 chở Q1 cầm theo dao quắm; V2 một mình đi một xe; P chở C cầm theo dao dạng mã tấu. Khi đi đến khu vực Trường mầm non B2 thì gặp Hoàng Đăng K2 (sinh ngày 17/11/2010) chở Dương Văn C1 (sinh ngày 22/9/2010), Q liền rủ K2 đi đánh nhau, K2 đồng ý chở C1 đi cùng, Q đưa cho K2 01 con dao quắm, còn Q1 thì đưa con dao quắm của mình cho Q.
Về phía Lô Tiến Võ sau khi hẹn với Nông Đức K thì gọi điện cho rủ Lương Quốc H (sinh ngày 13/10/2007), Vi Trọng H1, Chu Chí Đ (sinh ngày 06/8/2007), Lăng Gia B1 (sinh ngày 05/01/2010), Tằng Dảu V3 (sinh ngày 18/3/2009), Hoàng Trung N (sinh ngày 18/3/2011), Hà Tiến M2 (sinh ngày 07/4/2007) đi đánh nhau, hẹn tập trung gần khu vực xưởng miến Đ2 thuộc thôn N, xã Đ (cũ). Khi đi Đ mang theo 01 tuýp sắt dài khoảng 1,5m; H mang theo 01 tuýp sắt dài khoảng 1,5m và 02 vỏ chai bia chứa khoảng 300ml xăng, miệng chai được nút bằng vải; M2 cầm theo khoảng 03 - 04 vỏ chai bia nhặt ở khu vực thôn C, xã L, N cầm theo 01 dao dao dài khoảng 30cm, một đầu nhọn, bản rộng nhất khoảng 04cm và 02 vỏ chai bia; B1 và V3 mỗi người cầm 02 vỏ chai bia. Sau đó V điều khiển xe mô tô chở H1, Đ; H điều khiển xe mô tô chở B1 và M2; V3 điều khiển xe mô tô chở N đi đánh nhau, trên đường đi Huân qua nhà lấy 01 nỏ (ná) có gắn tia laze bắn đạn bi sắt đưa cho H tại đoạn đường gần nhà H1, H giấu nỏ (ná) trong áo rồi đi ra điều khiển xe mô tô và không nói cho ai biết.
Khoảng 00 giờ ngày 23/6/2025, hai nhóm gặp nhau ở cầu P, xã L thì ném vỏ chai bia vào nhau, trong đó nhóm Lô Tiến V còn ném chai xăng đã đốt cháy, H thì dùng ná cao su bắn bi sắt về phía nhóm Nông Đức K nhưng do khoảng cách giữa hai nhóm xa (khoảng 40 - 50m) nên không trúng ai và không gây thương tích cho ai. Lúc này T1 hô "có Công an" nên nhóm của Lô Tiến V quay ngược lại bỏ chạy về phía xã Đ (cũ). K và Q rủ cả nhóm đuổi chặn đầu đánh nhóm của Lô Tiến V tại khu vực cống hộp thuộc thôn P, cả nhóm đồng ý (vẫn cầm theo hung khí đã chuẩn bị trước đó). Khoảng 01 giờ ngày 23/6/2025, khi đến khu vực cống hộp Pắc Phe, lúc này Q điều khiển xe mô tô chở K đi trước thì thấy nhóm của V đi đến, K hô "đánh đi". Lúc này T1, L dùng vỏ chai bia ném về nhóm Lô Tiến V vẫn đang di chuyển bằng xe mô tô. Q, C1, La Thành N4, Mạ Thành H3, K2 cầm theo dao lao vào chặn đánh nhóm Lô Tiến V. C1 dùng dao dạng mã tấu sắt chém về phía nhóm Lô Tiến V nhưng không trúng ai. Khi Lương Quốc H điều khiển xe mô tô chở M2 ngồi giữa, B1 ngồi sau đi tới, C1 cầm dao chém về phía xe của H nhưng không trúng ai, K2 cũng vòng ra phía sau chiếc xe này, cầm dao quắm bằng tay phải chém hướng phần sống dao một nhát trúng vào vùng đầu và tay trái của B1. Q cầm dao chạy đến nhưng không kịp nên không chém được ai. Nhóm Lô Tiến V bỏ chạy, K2 lên xe do C1 điều khiển đuổi theo một đoạn đường thì không thấy có ai đuổi cùng nên quay lại. Sau đó Q gọi cả nhóm dọn dẹp vỏ chai bia rồi cùng nhau đi về.
Vật chứng thu giữ: 01 nỏ (ná) cao su (dạng súng), gắn tia laze dài 90cm do Vi Trọng H1 giao nộp.
Tại Kết luận giám định số: 5712/KL-KTHS, ngày 20/8/2025 của V4 Bộ C2 kết luận: 01 (một) mẫu vật dài 90 cm gửi giám định là nỏ (ná), thuộc Phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ” ban hành kèm theo Thông tư số: 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C2 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Tại Công văn số: 11/CV-UBND ngày 07/7/2025 và Công văn số 793/UBND-VP ngày 29/9/2025 của Ủy ban nhân dân xã L nhận định: Vụ việc hai nhóm thanh niên thôn Bản Pạt, thôn P xô xát đánh nhau trên đường phía Tây thuộc thôn P, xã L, tỉnh Quảng Ninh, xảy ra vào đêm ngày 22/6/2025 rạng sáng ngày 23/6/2025, diễn ra nhanh, vào đêm khuya, tại nơi vắng vẻ, dân sư thưa thớt, không có người và phương tiện qua lại, không gây cản trở giao thông đường bộ; vụ việc không được đăng tải trên mạng xã hội; chính quyền và các đoàn thể chính trị xã không nhận được bất kỳ đơn thu hoặc phản ánh nào về vụ việc trên gây bức xúc hoặc dư luận xấu trong nhân dân. Sau khi sự việc xảy ra, lực lượng chức năng đến làm việc người dân tại thôn mới biết có vụ việc trên. Do đó, tính chất mức độ của vụ việc trên không gây dư luận xấu, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Quá trình điều tra bị cáo Lương Quốc H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 13/5/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lương Quốc H về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 119; Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên xử phạt: bị cáo Lương Quốc H từ 12 đến 15 tháng tù, về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: 01 nỏ (ná) cao su (dạng súng), gắn tia laze dài 90cm đã được xử lý trong bản án hình sự số: 47/2026/HS-ST ngày 06/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh. Nên không đề cập xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Lương Quốc H thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh đã truy tố là đúng. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, tình tiết định khung hình phạt, điều luật Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh truy tố: tại phiên tòa bị cáo Lương Quốc H khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: khoảng 00 giờ ngày 23/6/2025, tại cầu P thuộc thôn P, xã L, nhóm Nông Đức K gồm có: Nông Đức K; Trắng Văn Q (cầm dao quắm); Lý Thành N2; Mạ Thành H3 (cầm dao phóng lợn); Trần Văn Đ1 A (cầm 01 dao đầu bằng); Trần Văn Đ1 B; Trần Đức K1; La Thanh N3 (cầm dao đầu bằng); Trắng Mạnh C (cầm dao dạng mã tấu); La Ngọc Q1, Tằng Đức V2, Mạ Quốc L, Dương Thanh T1 (đều cầm vỏ chai bia); Lâm Ngọc P; Hoàng Đăng K2 (cầm dao quắm); Dương Văn C1 và nhóm Lô Tiến V gồm có: Lô Tiến V; Lương Quốc H (cầm tuýt sắt dài 1,5m); Vi Trọng H1 (cầm nỏ (ná)); Chu Chí Đ (cầm tuýt sắt dài 1,5m); Tằng D, Hà Tiến M2, Lăng Gia B1 (đều cầm vỏ chai bia), Hoàng Trung N xô sát, đánh nhau, hai bên ném chai bia về phía nhau, trong đó Lương Quốc H sử dụng 01 nỏ (ná) là vũ khí thô sơ bắn về phía nhóm của K nhưng không trúng ai, sau đó nhóm V bỏ chạy. Do đó, hành vi của bị cáo Lương Quốc H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng vi phạm quy định của Nhà nước về sử dụng vũ khí quân dụng. Khi thực hiện hành vi, bị cáo đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi sử dụng nỏ (ná) bắn đạn bi sắt có tính sát thương cao, có khả năng gây thương tích và gây nguy hiểm đến tính mạng người khác, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn sử dụng để gây thương tích cho người khác, thể hiện sự coi thường pháp luật. Nên cần xử lý nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo là người chỉ đạo, khởi xướng về việc sử dụng nỏ (ná) để tham gia đánh nhau với nhóm thanh niên khác trên địa bàn và trực tiếp sử dụng bắn nhiều phát về phía đối phương, việc không gây thương tích cho ai là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo, nhưng cần cáo cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: 01 nỏ (ná) cao su (dạng súng), gắn tia laze dài 90cm đã được xử lý trong bản án hình sự số: 47/2026/HS-ST ngày 06/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh. Nên không đề cập xử lý.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Những vấn đề liên quan: đối với Trắng Văn Q, Mạ Thành H3, Lý Thành N2 và Vi Trọng H1 phạm các tội cố ý gây thương tích và tội sử dụng trái phép vũ khi quân dụng, thời điểm xử lý chưa đủ 18 tuổi, Cơ quan điều tra tách ra để xử lý bằng một vụ án riêng nên không đề cập xử lý trong vụ án này. Đối với Nông Đức K (14 tuổi 5 ngày), Trần Văn Đ1 (Đ) (15 tuổi). Trần Văn Đ1 (Đạo B) (14 tuổi 11 tháng), Trần Đức K1: (14 tuổi 7 tháng), La Thanh N3 (14 tuổi 6 tháng), Trắng Mạnh C (15 tuổi), La Ngọc Q1: (15 tuổi), Tằng Đức V2 (15 tuổi 10 tháng), Mạ Quốc L (15 tuổi), Dương Thanh T1 (14 tuổi 7 tháng), Lâm Ngọc P (15 tuổi), Hoàng Đăng K2 (14 tuổi 7 tháng), Dương Văn C1 (14 tuổi 9 tháng), Lô Tiến V (15 tuổi 8 tháng), Lăng Gia B1 (15 tuổi 5 tháng), Hoàng Trung N (14 tuổi 3 tháng) chưa đủ 16 tuổi nên hành vi không cấu thành tội phạm. Đối với Hà Tiến M2 (đủ 18 tuổi), Chu Chí Đ (17 tuổi 10 tháng), Tằng Dảu V3 (16 tuổi 3 tháng) tham gia cùng nhóm với Lô Tiến V nhưng không biết việc Vi Trọng H1 và Lương Quốc H chuẩn bị và sử dụng nỏ (ná) nên không đề cập xử lý.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt và điều luật áp dụng: căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 6 Điều 12; Điều 119; Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Lương Quốc H 12 (mười hai) tháng tù, về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
2. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Lương Quốc H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331 và khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT, THAHS Công an tỉnh QN; - VKSND khu vực 4 - QN; - Phòng THADS khu vực 4 - QN; - Phòng HSNV Công an tỉnh QN; - Lưu: hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đình Khoa |