- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn I phạm tội sử dụng trái phép chất ma tuý - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2026/HS-ST Ngày 10 - 6 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Hiền, ông Lò Văn Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở TAND khu vực 3 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2026/TLST-HS ngày 25/5/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2026/QĐXXST-HS ngày 28/5/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn I - Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Sinh năm 1973 tại tỉnh Điện Biên; Căn cước công dân số: 011073003758, cấp ngày 08/11/2021, nơi cấp: Cục C về trật tự xã hội; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Bản H, xã Q, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn S (đã chết) và bà Lò Thị M (đã chết); Vợ là Lò Thị P - sinh năm 1979 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Toà án nào xét xử.
Tạm giữ: Không; Bắt tạm giam từ ngày 12/3/2026 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình T – Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/01/2025 bị cáo Lò Văn I đăng ký cai nghiện tự nguyện điều trị các chất thay thế ma tuý bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone Trung tâm y tế huyện T theo Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 22/01/2025 của Chủ tịch UBND xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là xã Q, tỉnh Điện Biên). Đến ngày 24/3/2025 bị cáo tự ý bỏ điều trị thuốc thay thế ma tuý bằng Methadone.
Vào khoảng 20 giờ ngày 03/3/2026, tại khu vực đường rẽ vào bản N, xã Q, tỉnh Điện Biên bị cáo gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là T1 nhà ở bản N, xã Q. Qua trao đổi bị cáo hỏi mua được của T1 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được Heroine bị cáo đi bộ đến khu vực bờ suối dưới gầm cầu treo thuộc bản H, xã Q để sử dụng ma tuý. Bị cáo nhặt lấy một mảnh giấy bạc trong bụi cây và cho toàn bộ số H vừa mua được lên mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa ga đốt để Heroine bốc khói, sau đó hút trực tiếp vào cơ thể qua đường miệng. Sử dụng xong Heroine bị cáo vứt mảnh giấy bạc, chiếc bật lửa và mảnh giấy nilon màu xanh xuống suối rồi đi bộ về nhà.
Ngày 05/3/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành làm việc, thu mẫu nước tiểu của bị cáo gửi giám định và xác định bị cáo dương tính với chất ma tuý trong cơ thể.
Quá trình điều tra, tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Tại bản Kết luận giám định số 253/KL-KTHS ngày 10/3/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Tìm thấy chất ma tuý trong mẫu nước tiểu của Lò Văn I gửi giám định: Loại Morphine (Morphine được tìm thấy khi sử dụng Heroine, thuốc phiện hoặc trực tiếp sử dụng Morphine).
Cáo trạng số 12/CT-VKSKV3 ngày 25/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn I về tội "Sử dụng trái phép chất ma tuý" theo điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Về vật chứng: 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; mảnh giấy bạc; mảnh giấy nilon màu xanh sau khi sử dụng xong ma tuý, bị cáo đã vứt xuống suối. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa nhất trí với Cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội "Sử dụng trái phép chất ma tuý" theo điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nhất trí với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xem xét mức hình phạt nhẹ nhất trong khung đề nghị của Viện kiểm sát; đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến gì bổ sung vào luận cứ bào chữa.
Trong phần tranh luận do các ý kiến của người bào chữa đồng nhất với ý kiến đại diện Viện kiểm sát về tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt, việc miễn án phí sơ thẩm nên các bên không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt ngoài ra không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi phạm tội:
Bị cáo Lò Văn I đăng ký cai nghiện tự nguyện bằng thuốc thay thế theo bệnh án điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone từ ngày 22/01/2025 theo Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 22/01/2025 của Chủ tịch UBND xã Q, nhưng đến ngày 24/3/2025 bị cáo tự ý chấm dứt điều trị thuốc thay thế ma tuý bằng Methadone.
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03/3/2026, bị cáo đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, loại Heroine tại bản Hua Ca, xã Q, tỉnh Điện Biên. Bị cáo sử dụng ma tuý khi đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày tự ý chấm dứt cai nghiện ma tuý tự nguyện. Nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Hành vi của bị cáo phù hợp kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
[2] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho tội phạm về ma túy tồn tại và phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, kinh tế gia đình và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, vì vậy cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa về tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Biện pháp tư pháp và việc xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; mảnh giấy bạc; mảnh giấy nilon màu xanh sau khi sử dụng xong ma tuý bị cáo đã vứt xuống suối. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
[5] Về vấn đề khác có liên quan: Đối với người đàn ông tên T1 đã bán ma tuý cho bị cáo sử dụng ngày 03/3/2026, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét, xử lý.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo xin miễn án phí, nên cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn I phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".
2. Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Xử phạt bị cáo Lò Văn I 02 (hai) năm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 12/3/2026.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn I.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/6/2026).
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 3 - Điện Biên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh; - Phòng HSNV, Lý lịch tư pháp Công an tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh; - Phân trại tạm giam Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; - THADS tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu: HSVA, HSTHA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tòng Thị Lan |