- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn Hạnh - Tuấn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho bà Lương Thị H và ông Nguyễn Đình Lê T ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2026/HNGĐ-ST Ngày: 24-3-2026. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đoàn Văn Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi D Hà;
Ông Đào Duy Trâm.
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thùy Lương - Là Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2026, tại 05 Trần Hưng Đạo, xã Di L, tỉnh Lâm Đồng (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di L cũ). Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2026/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Lương Thị H, sinh năm: 1995; nơi cư trú: 15 Phạm D A, xã Di L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: ông Nguyễn Đình Lê T, sinh năm: 1993; nơi cư trú: 233/10 Hùng Z, xã Di L, tỉnh Lâm Đồng.
Các đương sự đều có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của bà Lương Thị H thì: bà và ông Nguyễn Đình Lê T kết hôn năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Di L, huyện Di L, tỉnh Lâm Đồng (nay là xã Di L, tỉnh Lâm Đồng). Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại địa chỉ 233/10 Hùng Z, tổ dân phố 2, thị trấn Di L, huyện Di L cũ (nay là xã Di L), tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, H phúc chỉ được 01 tháng đến tháng 11/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung, có những bất đồng về quan điểm, lối sống, ông Nguyễn Đình Lê T ngoại tình, không lo làm ăn suốt ngày chơi bời, không chăm lo cho vợ con, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, đánh nhau. Gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều lần, vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả nên đã sống ly thân từ khoảng tháng 10/2025. Bà đã chuyển về ở nhà mẹ đẻ tại số 15 Phạm D A, xã Di L, tỉnh Lâm Đồng, còn ông Nguyễn Đình Lê T thì vẫn sống tại số nhà 233/10 Hùng Z, tổ dân phố 2, thị trấn Di L, huyện Di L cũ (nay là xã Di L), tỉnh Lâm Đồng. năm 2023 bà đã nộp đơn xin ly hôn ông T nhưng ông T hứa thay đổi nên bà đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng có điều kiện hàn gắn nhưng ông T vẫn không thay đổi. Hiện tại vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, mạnh ai người đó sống. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Nguyễn Đình Lê T, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Nguyễn Đình Lê T.
- Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Đình Lê K, sinh ngày 17/02/2022 và cháu Nguyễn Lương Bảo D, sinh ngày 19/3/2023, hiện các con đang ở với bà. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là cháu Nguyễn Đình Lê K và cháu Nguyễn Lương Bảo D cho đến khi các con đủ tuổi thành niên. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T nhưng ông T không đến Tòa làm việc nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, bà H yêu cầu được ly hôn ông T; yêu cầu được nuôi hai con chung là cháu Nguyễn Đình Lê K, sinh ngày 17/02/2022 và cháu Nguyễn Lương Bảo D, sinh ngày 19/3/2023 cho đến khi các con đủ tuổi thành niên, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 con.
Ông T yêu cầu được đoàn tụ. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông đồng ý giao hai con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên, đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
Về tố tụng: trong quá trình thụ lý vụ án cũng như giải quyết vụ án, thì Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: xét mâu thuẫn giữa bà H và ông T có xảy ra và thực tế đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ông T yêu cầu được đoàn tụ nhưng không có cách thức, biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của H, cho bà H và ông T được ly hôn.
Về con chung: giữa bà H và ông T có hai con chung là cháu Nguyễn Đình Lê K, sinh ngày 17/02/2022 và cháu Nguyễn Lương Bảo D, sinh ngày 19/3/2023. Ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con cho đến khi các con đủ tuổi thành niên. Ông T đồng ý giao hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử giao hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên. Bà H yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 con. Ông T đồng ý cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 con nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông T cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 con cho đến khi các con đủ tuổi thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: bà H, ông T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về án phí: buộc bà H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Buộc ông T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: xuất phát từ yêu cầu khởi kiện của bà H yêu cầu được ly hôn với ông T; yêu cầu được nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.
Về quan hệ hôn nhân: bà H và ông T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Theo bà H thì cuộc sống vợ chồng hòa thuận, H phúc được 01 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung, có những bất đồng về quan điểm, lối sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, đánh nhau. Ông T có người phụ nữ khác bên ngoài, ăn chơi, không lo cho gia đình vợ con. Năm 2023 bà H đã làm đơn xin ly hôn ông T nhưng ông T hứa thay đổi nên bà rút đơn khởi kiện để vợ chồng có điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đến nay ông T không thay đổi. Ông T thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, khi vợ chồng cãi vã ông đã đánh vợ nhiều lần. Ông T cũng thừa nhận năm 2023 bà H có nộp đơn xin ly hôn ông nhưng ông hứa sẽ thay đổi bản thân nên bà H đã rút đơn khởi kiện. Tại phiên tòa, ông T yêu cầu được đoàn tụ nhưng không có cách thức, biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, hiện tại vợ chồng đã ly thân mỗi người ở một nơi, mạnh ai người đó sống. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng có hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H, cho bà H và ông T được ly hôn.
Về con chung: giữa bà H và ông T có hai con chung là cháu Nguyễn Đình Lê K, sinh ngày 17/02/2022 và cháu Nguyễn Lương Bảo D, sinh ngày 19/3/2023. Ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con cho đến khi các con đủ tuổi thành niên, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 con. Ông T đồng ý giao hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 con nên giao hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên. Buộc ông T cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 con, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3/2026 cho đến khi các con đủ tuổi thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: bà H, ông T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về án phí: buộc bà H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Buộc ông T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho bà Lương Thị H và ông Nguyễn Đình Lê T ly hôn.
2. Về con chung: giao hai con chung là cháu Nguyễn Đình Lê K, sinh ngày 17/02/2022 và cháu Nguyễn Lương Bảo D, sinh ngày 19/3/2023 cho bà Lương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên.
Buộc ông Nguyễn Đình Lê T cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 con (2.500.000 đồng/tháng/con), thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3/2026 cho đến khi các con đủ tuổi thành niên.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp, không trực tiếp nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: buộc bà Lương Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001656 ngày 23 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng).
Buộc ông Nguyễn Đình Lê T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bên đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để xin xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSND khu vực 4 - Lâm Đồng; - THADS tỉnh Lâm Đồng; - UBND xã Di L (UBND thị trấn Di L cũ), tỉnh Lâm Đồng; - Các đương sự; - Lưu AV - HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi D Hà – Đào Duy Trâm | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Chiến THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Chiến |