- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Y ly hôn với T"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số:48/2026/HNGĐ-ST Ngày: 25/02/2026 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Dũng và ông Huỳnh Thanh Hùng.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Triệu Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15- An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 402/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025 về việc:“Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:21/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số:36/2026/QĐHPT-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1984; nơi thường trú: Tổ C, ấp K, xã K, tỉnh An Giang.
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980, nơi thường trú: Tổ 03, ấp K, xã K, tỉnh An Giang.
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.
(Bà Y vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông T vắng mặt không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Đỗ Thị Y trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông T hình thành thông qua mai mối rồi được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân xã K, huyện A (nay là Ủy ban nhân dân xã K), tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn bà và ông T về chung sống tại gia đình bà. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2012 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do hai người bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không có tiếng nói chung, làm cho vợ chồng thường xuyên gây cãi nhau, bà nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được, từ đó làm cho gia đình mất hạnh phúc, hai người ly thân nhau từ đó cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung:Trong quá trình trong chung sống bà và ông T có 02 (hai) con chung 1/Nguyễn Thị Trinh Thư, sinh ngày 01/4/2004; 2/ Nguyễn Văn T1, sinh ngày 02/10/2007, hiện hai con chung đã trưởng thành, có công việc ổn định, tự nuôi sống được bản thân nên bà không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T không có mặt theo các văn bản triệu tập của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến; ông T cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Theo biên bản ghi nhận lời khai người thân của bà Y và ông T thì giữa hai người phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, hiện không còn sống chung với nhau.
Tại phiên tòa, bà Y vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng, ông T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn với bị đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T, đồng thời ông T vẫn thường trú trên địa bàn ấp K, xã K, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15- An Giang.
Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà Y vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Y và ông T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện A (nay là Ủy ban nhân dân xã K), tỉnh An Giang theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét, yêu cầu của bà Y xin ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Y và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến ly thân, thời gian ly thân giữa ông bà đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, đều này phù hợp với các biên bản làm việc với người làm chứng, người cho ý kiến mà Tòa án thu thập được. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Y và ông T đã thật sự trầm trọng không thể hàn gắn, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Y theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Bà Y và ông T có 02 (hai) con chung là Nguyễn Thị Trinh T2, sinh ngày 01/4/2004 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 02/10/2007, hiện hai con chung đã trưởng thành, có khả năng tự nuôi sống bản thân, bà không yêu cầu xem xét, giải quyết về con chung nên không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Bà Y là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Đỗ Thị Y.
Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị Y được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
Về án phí: Bà Đỗ Thị Y phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011655 ngày 15/12/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15- An Giang. (Bà Y đã nộp đủ).
Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án tuyên vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết bà Y và ông T được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 (7a, 7b) và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 15- An Giang; - Phòng THADS khu vực 15- An Giang; - UBND xã Khánh Bình; - Các đương sự; - Lưu Vp; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Đỗ Ngọc Mai Thy |