- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kiều M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kiều M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH N ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày: 17-4-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hoài Duy;
Ông Nguyễn Minh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Đức Trung – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố T, Tỉnh N.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố T, Tỉnh N tham gia phiên tòa: ông Trương Đức Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố T, Tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Kiều M, tên gọi khác: không có; sinh năm 2003, tại tỉnh Đồng Nai; nơi thường trú: ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nơi ở hiện nay: khu phố 7, phường 3, Thành phố T, Tỉnh N; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị Kim H; có chồng là Nguyễn Thanh P (không đăng ký kết hôn) và 01 người con.
Tiền án, Tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 19-12-2024, tạm giam ngày 28-12-2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an Thành phố T, nay là Phân trại tạm giam Thành phố T (khu vực 1) thuộc trại tạm giam Công an Tỉnh N có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết với một đối tượng tên V không rõ họ tên địa chỉ, tối ngày 18-12-2024 trong lúc đi ăn tối cùng với V, có nhu cầu sử dụng ma túy và biết V có ma túy nên bị cáo xin đối tượng tên V ma túy đem về sử dụng. Lúc này V đồng ý cho bị cáo 01 bịch nylon chứa ma túy và 01 đoạn ống hút được hàn kín chứa ma túy. Sau đó bị cáo đem về phòng trọ của bị cáo và lấy một ít ra để sử dụng, rồi cất phần còn lại vào trong túi xách màu nâu để ở đầu giường. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 19-12-2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma tuý phối hợp với Công an Phường 3 tiến hành kiểm tra phá hiện trên đầu giường bị cáo trong túi màu nâu có 01 bịch nylon chưa tinh thể rắn trong suốt nghi là ma túy, 01 đoạn ống hút hàn kín hai đầu chứa tinh thể rắn trong suốt nghi là chất ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Bị cáo khai nhận toàn bộ là ma túy của bị cáo cất để sử dụng nên lập biên bản bắt quả tang. Qua kết quả xét nghiệm xác định bị cáo dương tính với ma túy, loại Methamphetamin.
Tại kết luận giám định số 2596 ngày 19-12-2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Tỉnh N kết luận: mẫu tinh thể rắn trong suốt bên trong 01 bịch nylon và 02 đoạn ống hút được gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,5679 gam
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSHT ngày 05-3-2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố T, Tỉnh N đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố trong phần tranh luận: Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và điều luật đối với bị cáo đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo ân hận vì hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo về nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố T, Tỉnh N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố T, Tỉnh N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo: căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: khoảng 10 giờ ngày 19-12-2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy phối hợp với Công an phường 3 tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ của của bị cáo 01 bịch nylon và 01 đoạn ống hút bên trong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5679 gam. Hành vi của bị cáo đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh HIV-AIDS và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm khác; nên cần phải có hình phạt tương xứng đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: không có.
Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điển s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố T, Tỉnh N đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, tuổi đời còn quá trẻ. Nên cần áp dụng một mức hình phạt phù hợp vừa đảm bảo tính răn đe, giáo dục vừa tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt, sớm hòa nhập cộng đồng và làm người công dân có ích cho xã hội. Do đó Hội đồng xét xử xem xét quyết định một mức hình phạt nhẹ hơn cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 gói niêm phong ghi số 2596 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, trợ lý Tạ Đình Phong và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh N là chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 túi đeo màu nâu của bị cáo sử dụng vào việc tàng trữ trái pháp chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 tẩu thủy tinh, 01 chai nhựa gắn nắp, trên nắp có hai lỗ, một lỗ gắn ống hút, một lỗ gắn tẩu thủy tinh bị cáo dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kiều M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kiều M 01 (Một) năm tù, thời hạn thi hành hình phạt tù được tính từ ngày 19-12-2024.
2. Xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi số 2596 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, trợ lý Tạ Đình Phong và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh N; 01 túi đeo màu nâu; 01 tẩu thủy tinh, 01 chai nhựa gắn nắp, trên nắp có hai lỗ, một lỗ gắn ống hút, một lỗ gắn tẩu thủy tinh.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tỉnh N trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAND Tỉnh N; - VKSND Tỉnh N; - VKSND Thành phố T; - Chi cục THADS Thành phố T; - Cơ quan CSĐT CA Tỉnh N; - Phòng PV 06 CA Tỉnh N; - Công an Tỉnh N; - Phân trại I; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Ly |