vanban.org

Bản án 48/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 23/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Xử phạt: Nguyễn Tuấn K mức án 02 (hai) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý; xử phạt Nguyễn Tuấn K mức án 08 (tám) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn Kiệt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Ô MÔN,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HS-ST
Ngày: 23-05-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Thái

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. bà Ngô Thị Út Hậu

2. ông Võ Tự Trị

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Như Ngọc - Thư ký

- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Thạnh Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 05 năm 2025 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 09/9/1994, tại thành phố C.

Nơi ĐKHKTT: Khu vực T, phường P, quận O, Tp C

Nghề nghiệp: Tài xế

Trình độ học vấn: 07/12;

Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn Lâm (chết) và bà Phan Thị Nhiều, sinh năm 1953

Tiền án: không;

Tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần tại Phân trại Tạm giam khu vực Ô Môn.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Đỗ Thanh T, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực T, phường P, quận O, Tp Cần Thơ

2. Trịnh Hoàng S, sinh năm 2003 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực B, phường , quận O, Tp Cần Thơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Căn cứ nguồn tin tố giác tội phạm, ào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/12/2024 Đội CSĐTTP về Ma túy, Công an quận Ô Môn phối hợp với Công an phường Phước Thới thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở đối với Nguyễn Tuấn K tại khu vực T, phường P, quận O, thành phố Cần Thơ. Qua khám xét lực lượng Công an phát hiện, thu giữ 01 (một) gói ni lông nẹp miệng bên trong chứa các hạt tinh thể không màu nghi là ma tuý được để trong hộp giấy màu xám, để trong phòng ngủ của Nguyễn Tuấn K cùng một số vật dụng dùng để sử dụng ma tuý.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tuấn K khai nhận: vào khoảng 19 giờ ngày 15/12/2024, K có liên hệ với một người tên Phong (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua ma tuý sử dụng với giá 700.000 đồng, hẹn giao ma tuý tại gần đầu đường vào Trung tâm cai nghiện Tấn Hưng (Võ Cánh Sinh) thuộc phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Do không biết chỗ cầm đồ nên K nhờ Trịnh Hoàng S đi cầm giúp điện thoại của K được số tiền 700.000 đồng. Sau khi S cầm được điện thoại và đưa tiền cho K thì K dùng số tiền này để đi đến điểm hẹn mua ma tuý của Phong được 01 (một) gói ma tuý với giá 700.000 đồng.

Sau đó, K quay về nhà tại khu vực T, phường P, quận O, tại đây K rủ S cùng sử dụng ma tuý, sử dụng xong thì K và S nằm nghỉ.

Đến khoảng 22 giờ thì Đỗ Thanh Tâm đến nhà của K. Lúc này, K mới lấy ma tuý ra để cho K, Tâm, S cùng sử dụng, sử dụng xong thì S đi về còn Tâm thì ngủ lại nhà của K.

Sau đó, đến khoảng 02 giờ sáng thì S có quay trở lại nhà K thì lúc này K còn ngủ thì Tâm, S tự sử dụng ma tuý.

Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 16/12/2024 thì K bị lực lượng công an khám xét, thu giữ 01 gói ma tuý, là ma tuý đá trong phòng ngủ của K.

Trong lúc khám xét tại nhà của K còn có mặt của Đỗ Thanh Tâm và Trịnh Hoàng S. Qua kiểm tra, K, Tâm, S dương tính với chất ma tuý.

Căn cứ kết luận giám định số 428/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ kết luận: tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4895 gam.

Đối với người tên Phong là người bán ma tuý cho K, do chưa xác định được nhân thân, Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được. Tiếp tục xác minh, làm rõ nếu đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Trịnh Hoàng S và Đỗ Thanh Tâm có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

Tại Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 17 tháng 04 năm 2025, Viện Kiểm sát Nhân dân quận Ô Môn đã truy tố Nguyễn Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Tuấn K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày:

+ Giữ nguyên quan điểm Cáo trạng truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b Khoản 2 Điều 255, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, đề nghị xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Về xử lý vật chứng đề nghị:

Tịch thu tiêu huỷ khối lượng ma tuý còn lại theo gói niêm phong số 428/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Công an thành phố Cần Thơ.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình tự chế bằng thuỷ tinh có gắn nắp đậy bằng nhựa đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy màu xám có ghi chữ Redmi đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) đầu khò màu trắng đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động màu xanh, có ghi chữ REDMI, số imei1: 866517051753974, số imei2: 866517051753982 gắn sim viettel có số seri 8984048000029165770 điện thoại bị vỡ mặt kính phía trước đã qua sử dụng.

Trả lại Đỗ Thanh Tâm 01 (một) điện thoại di động Realme 5, màu tím, số imei1: 865394040094337, số imei2: 865394040094329 đã qua sử dụng có gắn 01 sim điện thoại số 0939570918 trên sim có dãy số 84012212292085774;

Trả lại của Trịnh Hoàng S 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro màu trắng có số imei: 353243108810549 và số imei2: 353243108352989 có gắn sim mobifone số seri 8401240812702657 đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại nên được xem là hợp pháp.

Về tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Tuấn K tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Cho thấy bị cáo Nguyễn Tuấn K ngày 15/12/2024 đã chủ động liên hệ mua ma túy loại Methamphetamin của người tên Phong với số tiền 700.000 đồng, sau đó bị cáo rủ Trịnh Hoàng S, Đỗ Thanh Tâm đến nhà bị cáo để sử dụng ma túy. Tại nhà bị cáo K, bị cáo đã cùng S, Tâm sử dụng ma túy nhiều lần với nhau, đồng thời số ma túy còn lại sau sử dụng, bị cáo cất vào hộp giấy (loại hộp điện thoại) để cất giữ. Từ đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã xâm phạm quy định về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, là khách thể được pháp luật nghiêm cấm các hành vi sử dụng, tàng trữ, vận chuyển và mua bán trái phép. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, bình thường về thể chất và tâm thần, nhận thức rõ được tác hại của ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do sống buông thả, không chịu rèn luyện tu dưỡng nên dẫn đến nghiện hút để rồi phải lệ thuộc vào ma tuý và hậu quả tất yếu là dấn thân vào con đường phạm tội. Nên cần áp dụng chế tài hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo có nhân thân tốt. Nhận thấy bị cáo tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Khối lượng ma tuý còn lại theo gói niêm phong số 428/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Công an thành phố Cần Thơ là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) bình tự chế bằng thuỷ tinh có gắn nắp đậy bằng nhựa đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy màu xám có ghi chữ Redmi đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) đầu khò màu trắng đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động màu xanh, có ghi chữ REDMI, số imei1: 866517051753974, số imei2: 866517051753982 gắn sim viettel có số seri 8984048000029165770 điện thoại bị vỡ mặt kính phía trước đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với điện thoại thu giữ của Đỗ Thanh Tâm là 01 (một) điện thoại di động Realme 5, màu tím, số imei1: 865394040094337, số imei2: 865394040094329 đã qua sử dụng có gắn 01 sim điện thoại số 0939570918 trên sim có dãy số 84012212292085774 và đối với điện thoại thu giữ của Trịnh Hoàng S là 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro màu trắng có số imei: 353243108810549 và số imei2: 353243108352989 có gắn sim mobifone số seri 8401240812702657 đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào:

- điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự;

- Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Nguyễn Tuấn K mức án 02 (hai) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý; xử phạt Nguyễn Tuấn K mức án 08 (tám) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành là 10 (mười) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ khối lượng ma tuý còn lại theo gói niêm phong số 428/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Công an thành phố Cần Thơ.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình tự chế bằng thuỷ tinh có gắn nắp đậy bằng nhựa đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy màu xám có ghi chữ Redmi đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) đầu khò màu trắng đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động màu xanh, có ghi chữ REDMI, số imei1: 866517051753974, số imei2: 866517051753982 gắn sim viettel có số seri 8984048000029165770 điện thoại bị vỡ mặt kính phía trước đã qua sử dụng.

Trả lại Đỗ Thanh Tâm 01 (một) điện thoại di động Realme 5, màu tím, số imei1: 865394040094337, số imei2: 865394040094329 đã qua sử dụng có gắn 01 sim điện thoại số 0939570918 trên sim có dãy số 84012212292085774. Trả lại Trịnh Hoàng S 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro màu trắng có số imei: 353243108810549 và số imei2: 353243108352989 có gắn sim mobifone số seri 8401240812702657 đã qua sử dụng.

3. Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ