- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luậ…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Phú.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 323 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2025/HS-PT Ngày: 20 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Khắc Thịnh.
Ông Nguyễn Phú Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lưu Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 32/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn Phú, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn Phú, sinh ngày 01/01/1973 tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp Long Thới A, xã Long Thuận, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Lưu (đã chết) và bà Đỗ Thị Điều (đã chết); có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; có mặt.
Ngoài ra còn có bị cáo Phan Bảo Dư không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 23 giờ 20 phút ngày 22/7/2024, bị cáo Phan Bảo Dư đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đến ấp Long Thới A, xã Long Thuận, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp phát hiện chuồng dê của bà Nguyễn Thị Nhiển không có người trông coi, bị cáo Dư bắt trộm 02 con dê bỏ vào bao, đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 09 giờ ngày 23/7/2024, bị cáo Dư điện thoại cho bị cáo Nguyễn Văn Phú bán 02 con dê, bị cáo Phú báo giá 105.000 đồng/01kg. Khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo Phú đến nhà bị cáo Dư xem 02 con dê, phát hiện 02 con dê của bà Nhiển (tài sản lấy trộm) nên trả giá 90.000 đồng/01kg, bị cáo Dư cũng đồng ý bán và nhận tiền cọc 900.000 đồng, bị cáo Phú hẹn sáng hôm sau bắt dê, khoảng 04 giờ 30 phút ngày 24/7/2024, bị cáo Phú đến bắt 02 con dê bỏ vào bao đem về nhà bị cáo Phú và thông báo cho bị cáo Dư biết là 02 con dê cân được tổng trọng lượng là 22kg, tổng số tiền là 1.950.000 đồng, đã nhận số đủ tiền, bị cáo Phú còn nói với bị cáo Dư “anh cứu mầy chén này sau này không vậy nữa nhé”.
Đến khoảng 24 giờ ngày 03/10/2024, bị cáo Dư lén lút vào nhà của anh Phạm Hồng Thuận lấy trộm 01 bao gạo 50kg; 01 bao lúa 49kg; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 13 đã qua sử dụng; 01 máy tính xách tay hiệu Asuz, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 330.000 đồng đem về nhà cất giấu thì bị phát hiện.
Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KLHĐĐGTS-TTHS ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận tài sản yêu cầu định giá tại thời điểm ngày 23/7/2024 có giá trị như sau: kết luận: 01 (một) con dê đực có lông mình màu trắng, có lông ở cổ, ở đầu và đuôi có màu xám đen, có sừng mọc dài trên đầu, có trọng lượng 12,2kg (mười hai phẩy hai kí lô gram), có giá 1.342.000 đồng; 01 (một) con dê đực có lông mình màu trắng, có lông ở cổ, ở đầu và đuôi có màu xám đen, có sừng mọc dài trên đầu, có trọng lượng 13kg (Mười ba kí lô gram), có giá 1.430.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 45/KLHĐĐGTS-TTHS ngày 17/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, đã kết luận: 01 (một) bao gạo loại gạo sa mơ trong lượng 50kg (năm mươi kí lô gam) chứa trong bao tải dứa màu trắng, có giá 950.000 đồng; 01 (một) bao lúa loại lúa 504, trong lượng 49kg (bốn mươi chín ký lô gam), có giá 392.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Redmi note 13, đã qua sử dụng, có giá 1.500.000 đồng; 01 (một) máy tính xách tay hiệu Asuz, đa qua sử dụng, có giá 1.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
+ 01(một) xe mô tô biển kiểm soát số 66L4-3922, nhãn hiệu Passion, loại xe Nữ; màu sơn: đỏ, đen; số máy: FMH-A007196; số khung 7X-007196, đã qua sử dụng.
+ 01(một) cái bao loại bao thức ăn (loại bao cho gia súc) có nhãn hiệu Greenfeed có màu xanh và trắng, trên nền bao có in hình con heo, loại bao 25kg, bị cắt một phần từ trên miệng bao xuống, ở gốc có buộc một sợi dây nhựa màu xanh, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái bao loại bao thức ăn (loại bao cho gia súc) có nhãn hiệu Leonghup, có màu đỏ và trắng, trên bao có in hình con vịt, loại bao 25kg, bị cắt một phần từ trên miệng bao xuống, ở gốc có buộc một sơi dây nhựa màu xanh, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) cây kìm cộng lực màu vàng đen đã qua sử dụng.\
+ 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng.
+ 01 giấy đăng ký xe mô tô số 0091912, biển kiểm soát 66L4-3922, số máy FMH-A007196, số khung 7X-007196, loại xe nữ, màu sơn Đỏ -Đen do ông Nguyễn Văn Phú đứng tên.
+ Tiền Việt Nam 1.100.000 đồng là số tiền bán 02 con dê do bị cáo Phan Bảo Dư giao nộp.
+ Đối với 02 con dê là tài sản bị mất trộm của bị hại Nguyễn Thị Nhiển, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Nhiển xong.
+ Đối với 01 (một) bao gạo loại gạo sa mơ, trong lượng 50kg (năm mươi kí lô gram) chứa trong bao tải dứa màu trắng; 01 (một) bao lúa loại lúa 504, trong lượng 49kg (bốn mươi chín ký lô gram); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Redmi note 13, đã qua sử dụng; 01 (một) máy tính xách tay hiệu Asuz, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 330.000 đồng, là tài sản bị mất trộm của bị hại Phạm Hồng Thuận nên ngày 01/11/2024 Cơ quan điều tra trả lại cho bị hại Phạm Hồng Thuận xong.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Nguyễn Thị Nhiễn, Phạm Hồng Thuận và bị cáo Nguyễn Văn Phú không yêu cầu bị cáo Phan Bảo Dư bồi thường thiệt hại.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phan Bảo Dư phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Bảo Dư 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 11/10/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Phú phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Phú 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, về trách nhiệm dân sự, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 31/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn Phú kháng cáo xin được hưởng án treo để bị cáo được ở nhà chăm lo cho vợ là Bùi Thị Phụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Phú giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Phú nộp trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Ngày 22/7/2024 bị cáo Phan Bảo Dư trộm 02 con dê của bà Nguyễn Thị Nhiển, ngày 23/7/2024 bị cáo Nguyễn Văn Phú biết 02 con dê do bị cáo Dư trộm mà có và đã mua giá 1.950.000 đồng, thấp hơn giá thị trường nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Phú phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Phú, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Xét mức án 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phú là phù hợp. Bị cáo Phú kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết mới nên kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo không có căn cứ để chấp nhận. Căn cứ vào Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Phú và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn Phú không tranh luận với Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Lời nói sau cùng bị cáo Phú xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo vì bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, còn trong tang chế, vợ bệnh hiểm nghèo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Phú nộp trong thời hạn hạn luật định nên hợp lệ và được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Phú thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo Phú phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định: Vào khoản 23 giờ 20 phút ngày 22/7/2024, tại ấp Long Thới A, xã Long Thuận, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, phát hiện chuồng dê của bà Nguyễn Thị Nhiển không có người trông giữ, bị cáo Phan Bảo Dư đã lén lút trộm 02 con dê của bà Nhiển, trị giá 2.772.000 đồng. Ngày 23/7/2024 bị cáo Nguyễn Văn Phú biết 02 con dê bị cáo Dư trộm cắp của bà Nhiển mà có nên đã mua thấp hơn giá thị trường, đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 24/7/2024 bị cáo Phú đến nhà bị cáo Dư bắt 02 con dê đem về nhà, thông báo cho bị cáo Dư biết trọng lượng 02 con dê, tổng số tiền bán dê là 1.950.000 đồng và bị cáo Phú còn nói với bị cáo Dư “anh cứu mầy chén này sau này không vậy nữa nhé”.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Phú phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Phú.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, học vấn thấp, có người thân tham gia cách mạng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp. Xét mức án 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phú là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo.
Bị cáo Phú kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, vợ bệnh hiểm nghèo (lần một mổ thai ngoài tử cung và lần hai mổ sạn túi mật) và còn để tang mẹ bị cáo. Tuy nhiên bị cáo chỉ trình bày mà không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, vợ bị cáo sinh năm 1972 vẫn còn trong độ tuổi lao động, việc vợ bị cáo đã mổ thai ngoài tử cung và mổ sạn túi mật không là bệnh hiểm nghèo, hay tình tiết bị cáo còn đang để tang mẹ, không là căn cứ xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Phú kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Phú.
Những ý kiến, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Phú do phù hợp với phân tích và nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Phú không được chấp nhận nên bị cáo Phú phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Phú.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Phú.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Phú phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Phú 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Phú phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ GĐ-KT 1); - Ban Nội chính Tỉnh ủy; - VKSND Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - Trại tạm giam Công an Tỉnh; - TAND-VKSND huyện Hồng Ngự; - CCTHADS huyện Hồng NGự; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng TT,KT và THA TAT; - Bị cáo; - Lưu: VT, HS (Hạnh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hằng |