- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị B về việc yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Quốc D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2025/HNGĐ-STTHÀNH PHỐ THUẬN AN Ngày: 03 – 4 - 2025TỈNH BÌNH DƢƠNG V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc .
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng
2. Ông Huỳnh Văn Thức
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Bƣơng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 51/2025/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐST - HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đƣơng sự:
Nguyên đơn: Bà Phùng Thị B, sinh năm 1988; nơi thƣờng trú: 149G khu phố H, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1987; nơi thƣờng trú: 149G khu phố H, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Các đƣơng sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn – bà Phùng Thị B trình bày:
Bà B và ông D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 07 tháng 12 năm 2013, theo giấy chứng nhận kết hôn số 102/2013, quyển số 01/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thƣờng nhƣng đầu năm 2016 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn về kinh tế nhƣ ông D mở tiệm sửa xe máy nhƣng không tu chí làm ăn, ban đêm thì tham gia đội bảo vệ dân phố, ban ngày thì đóng tiệm sửa xe để ngủ. Sau đó học nghề lái xe tải cũng không đi làm nghề lái xe. Trong thời gian ông D tham gia đội bảo vệ dân phố thì bà Bích sinh 02 con nhƣng ông D cứ đi trực đêm khu phố không chăm lo cho vợ con trong khi vợ chồng đã ra sống riêng nhà trọ không sống chung với gia đình bà B rất khó khăn. Nhiều đêm con ốm đau bà B phải đi tìm kiếm ông D về phụ giúp chăm sóc con nhƣng ông D không quan tâm. Mâu thuẫn vợ chồng càng ngày càng chồng chất, vợ chồng không thể nói chuyện đƣợc với nhau vì cứ nói là cãi nhau. Thời điểm bà B nộp đơn ly hôn thì ông D chửi bới hàng xóm, gia đình bên ngoại xúi bà B ly hôn nhƣng bà B cho rằng lý do ly hôn do bà B không còn yêu thƣơng và không muốn sống chung với ông D một ngày nào nữa. Ngoài ra khi say rƣợu là ông D chửi bà B có quan hệ với ngƣời đàn ông khác với lời lẽ xúc phạm. Vợ chồng mặc dù còn sống chung nhà nhƣng không ăn cơm chung, không ngủ chung. Trong thời gian Tòa án đƣa vụ án ra xét xử thì ông D có đƣa cho bà B 8.000.000 đồng để bà B trang trải chi phí gia đình nhƣng bà B chỉ lấy 2.000.000 đồng để đóng tiền học cho con. Bà B xác định nay ông D có đƣa bao nhiêu tiền thì bà B không đồng ý đoàn tụ vì không còn tình cảm. Bà B xác định không còn yêu thƣơng ông D nữa nhất quyết xin ly hôn.
Trong quá trình chung sống thì ông D và bà B có 02 con chung Nguyễn Thảo M, sinh ngày 23/4/2016 và Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 16/10/2018. Hiện nay các con đang do bà B và ông D chăm sóc, bà B yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con vì các con còn nhỏ, là con gái cần sự chăm sóc, quan tâm của ngƣời mẹ, bà B có công việc, thu nhập ổn định nên có điều kiện chăm sóc cho con tốt hơn ông D. Ngoài ra bà B sống gần cha mẹ ruột nên là điều kiện thuận lợi có ngƣời hỗ trợ chăm sóc các con.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Không yêu cầu ông Nguyễn Quốc D cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ: Căn cước công dân (bản sao); giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); trích lục kết hôn (bản sao).
Quá trình tố tụng bị đơn – ông Nguyễn Quốc D trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của bà B về thời gian và điều kiện kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn thống nhất theo lời trình bày là trƣớc đây không phụ giúp vợ chăm sóc gia đình vì ông D bị bệnh đột quỵ. Thời gian này ông D mới chữa trị gần xong hết bệnh và hứa sẽ thay đổi, hàng tháng đi làm sẽ đƣa hết tiền lƣơng cho bà B và hứa sẽ phụ vợ chăm sóc con cái, phụ giúp việc nhà cho vợ bớt vất vả.
Tại phiên tòa ông D trình bày tháng lƣơng này thì ông D đã đƣa cho bà B hết nhƣng bà B chỉ lấy một phần nhỏ, ông D cũng tích cực nhờ gia đình bên vợ tác động đoàn tụ nhƣng bà B không đồng ý.
Về con chung: Trƣờng hợp Tòa án cho ly hôn thì yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng các con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Bà B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; ông D giữ nguyên ý kiến của mình. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về con chung giao cháu Nguyễn Thảo M, sinh ngày 23/4/2016 và Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 16/10/2018 cho bà B trực tiếp nuôi dƣỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà B không yêu cầu ông D cấp dƣỡng nuôi con, về tài sản chung nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự: Bà B khởi kiện ông D yêu cầu đƣợc ly hôn, tranh chấp ngƣời nuôi con hiện đang trú tại phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Bà B và ông D tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ việc vợ chồng không thấu hiểu, san sẻ nhau trong cuộc sống hôn nhân dẫn đến cãi vã không tôn trọng lẫn nhau nên bà B đã không còn còn yêu thƣơng ông D và nhất quyết ly hôn. Từ đó Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà B đƣợc ly hôn với ông D.
Về con chung: Xét thấy cháu Nguyễn Thảo M, sinh ngày 23/4/2016 có nguyện vọng muốn sống với mẹ, cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 16/10/2018 còn nhỏ và đều là con gái nên cần đƣợc sự chăm sóc của ngƣời mẹ. Ngoài ra bà B có công việc và thu nhập ổn định, làm giờ hành chính, sống gần cha mẹ ruột nên Hội đồng xét xử giao các con do bà B nuôi dƣỡng là phù hợp. Bà B không yêu cầu ông D cấp dƣỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị B về việc yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Quốc D.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị B đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Quốc D.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thảo M, sinh ngày 23/4/2016 và cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 16/10/2018 cho bà Phùng Thị B trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phùng Thị Bích K yêu cầu ông Nguyễn Quốc D cấp dƣỡng nuôi con.
Các đƣơng sự có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết
2. Về án phí: Bà Phùng Thị Bích P chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000623 ngày 09/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị N1 |