vanban.org

Bản án 48/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Trương Văn H.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2016, ngày 24 tháng 3 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang). Về con chung: Giao cháu Trương Thị Huyền M, sinh ngày 04/5/2016 và cháu Trương Tiến H1, sinh ngày 19/5/2019 cho chị Hoàng Thị T là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án về ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Trương Văn H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƢƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST
Ngày 09/6/2025
Về việc: “Ly hôn, giao nuôi con chung
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƢƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Hồng Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Long và ông Hoàng Văn Hùng.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Thế Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L - Kiểm sát viên.

Ngày 09/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 94/2025/TLST-HNGĐ, ngày 18/3/2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 22/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trƣơng Văn H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Trương Văn H kết hôn với nhau vào năm 2016, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 24/3/2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2016, ngày 24 tháng 3 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang).

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống, làm việc tại thôn L, xã P. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến tháng 11 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, hiện đang sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, tháng 3 năm 2025 chị Hoàng Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn H.

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày: Nguyên nhân mâu thẫn là do trong cuộc sống hai vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh H ham chơi không chịu khó làm ăn lo kinh tế gia đình, không tôn trọng gia đình nhà vợ dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xích mích. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, không có hạnh phúc nên cuối năm 2023 chị và anh H quyết định sống ly thân. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình nhiều lần hoà giải nhưng không có kết quả. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Toà án nhân dân huyên Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn H.

- Về con chung: Chị Hoàng Thị T xác định có 02 người con chung là Trương Thị Huyền M, sinh ngày 04/5/2016 và Trương Tiến H1, sinh ngày 19/5/2019. Quá trình giải quyết chị T có quan điểm nhận là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M và cháu H1, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Lời khai của cháu Trương Thị Huyền M có trong hồ sơ thể hiện nguyện vọng của cháu là được sống cùng với mẹ.

- Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về vay nợ chung: Chị Hoàng Thị T xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

Kết quả xác minh thể hiện: Chị Hoàng Thị T và anh Trương Văn H đều có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Chị T và anh H kết hôn với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại thôn L, xã P, huyện S. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, suy nghĩ không còn hiểu nhau, không có tiếng nói chung, anh H ham chơi không chịu khó làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu bia dẫn đến vợ chồng thường xuyên to tiếng cãi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình nhiều lần hoà giải nhưng không thành. Ở địa phương anh Trương Văn H làm lao động tự do hiện đang đi làm ở khu vực tỉnh Vĩnh Phúc, không có mặt tại địa phương nhưng vẫn thường xuyên về nhà vào các ngày nghỉ, lễ tết hoặc gia đình anh có việc riêng rồi lại đi làm.

Anh Trương Văn H hiện đang đi làm ăn xa, không có mặt ở nhà, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần anh H vẫn không đến Toà án làm việc. Do vậy Toà án nhân dân huyện Sơn Dương chỉ tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ với nguyên đơn và không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn khi tham gia tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng đối với bị đơn anh Trương Văn H không chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Chị Hoàng Thị T và anh Trương Văn H kết hôn vào năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Do vậy, căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Trương Văn H; giao cháu Trương Thị Huyền M, sinh ngày 04/5/2016 và cháu Trương Tiến H1, sinh ngày 19/5/2019 cho chị Hoàng Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về tài sản chung, về vay nợ chung: Chị Hoàng Thị T xác định không có, không đề nghị giải quyết nên không đề cập xử lý.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

. Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện chị Hoàng Thị T đề nghị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn H và giao nuôi con chung khi ly hôn; không đề nghị giải quyết về tài sản, đất đai, công nợ chung. Do vậy, quan hệ pháp luật ở đây được xác định là “Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã triệu tập anh Trương Văn H nhiều lần nhưng anh H không đến làm việc, đây được xác định thuộc trường hợp bị đơn cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Tại phiên toà, nguyên đơn chị Hoàng Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trương Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Trương Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 24/3/2016 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Vợ chồng thường to tiếng cãi nhau và hiện đang sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng đã hết, tháng 3 năm 2025 chị Hoàng Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn H.

Như vậy, cuộc sống hôn nhân của chị Hoàng Thị T và anh Trương Văn H có hạnh phúc thời gian đầu sau phát sinh mâu thuẫn và ngày càng căng thẳng, không hạnh phúc, vợ chồng hiện đang sống ly thân nên xác định hôn nhân của chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Trương Văn H2

2.2. Về con chung: Chị Hoàng Thị T và anh Trương Văn H có 02 con chung là Trương Thị Huyền M, sinh ngày 04/5/2016 và cháu Trương Tiến H1, sinh ngày 19/5/2019.

Xét thấy, cháu Trương Thị Huyền M và cháu Trương Tiến H1 là con chung của chị Hoàng Thị T và anh Trương Văn H nên anh chị đều cùng phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với các cháu. Tuy nhiên, do anh H không có mặt ở địa phương, quá trình giải quyết chị T có quan điểm được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu M, H1 và không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Lời khai của cháu Trương Thị Huyền M thể hiện nguyện vọng của cháu là được sống cùng với mẹ. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung và đảm bảo quyền lợi của các đương sự sau khi ly hôn, căn cứ quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cần giao cháu Trương Thị Huyền M, sinh ngày 04/5/2016 và cháu Trương Tiến H1, sinh ngày 19/5/2019 cho chị Hoàng Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trương Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét.

2.4. Về vay nợ chung: Chị Hoàng Thị T xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Trương Văn H.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2016, ngày 24 tháng 3 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang).

2. Về con chung: Giao cháu Trương Thị Huyền M, sinh ngày 04/5/2016 và cháu Trương Tiến H1, sinh ngày 19/5/2019 cho chị Hoàng Thị T là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Trương Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000003310155, ngày 18/3/2025 của Công ty cổ phần T1 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Toà án số: 000054, ngày 18/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Chị Hoàng Thị T đã nộp đủ án phí của vụ án.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ