vanban.org

Bản án 48/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước Tuyên án 27/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

2. Xử phạt bị cáo Cao H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "giao câu ngươi chưa thanh niên - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 48/2024/HSST
Ngày: 27 – 5 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ung Thị Ngọc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Xuân Thiều – giáo viên hưu trí

2. Ông Phạm Xuân Đính

-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Thân Văn Chẻo – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/HSST ngày 29 tháng 3 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/HSST-QĐ ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:

CAO H, sinh năm 2003 tại Đắk Lắk; tên gọi khác: Không; HKTT: Thôn 1, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Cao Đ, sinh năm 1976 và bà Đặng T, sinh năm 1984; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2024 đến 19/3/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Cháu Thị V, sinh ngày 01/12/2008; địa chỉ: Tổ 11, ấp 2, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện hợp pháp của cháu V: Bà Thị C, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ 11, ấp 2, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Phan Thị Vân – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Phước.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn 1, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 01 năm 2024, thông qua ứng dụng hẹn hò trên trang mạng xã hội “Litmatch”, Cao H sử dụng tài khoản mạng xã hội Messenge tên “Tiến Đạt” của H kết bạn làm quen với tài khoản mạng xã hội Messenge tên “Thuý V”của cháu Thị V, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2008, nơi thường trú: Ấp 2, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Sau đó, H và V nảy sinh tình cảm yêu đương.

Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 19 tháng 01 năm 2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda – Vision, màu đỏ, biển số 47AB – 328.83 đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến xã Minh Lập, thị xã Chơn Thành hẹn gặp cháu V. Trên đường đi H vào quầy bán thuốc tây (không nhớ tên, địa chỉ) ở bên phải đường QL13 mua 03 (ba) bao cao su (không rõ nhãn hiệu của bao cao su). Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H thuê phòng số 12, nhà nghỉ “Hoàng Nguyên”, địa chỉ: Tổ 2, ấp 2, xã Minh Lập, thị xã Chơn Thành do ông Bùi N, sinh năm 1952, nơi thường trú: Tổ 2, ấp 2, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước làm chủ. Sau đó, H nhắn tin hẹn cháu V đến cổng nhà nghỉ “Hoàng Nguyên” để gặp thì cháu V đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, cháu V đến cổng nhà nghỉ “Hoàng Nguyên” gặp H. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 47AB – 328.83 chở cháu V đi chơi hội chợ tại xã Minh Lập, thị xã Chơn Thành. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H chở cháu V về nhà nghỉ “Hoàng Nguyên” để ngủ. Ngày 20/01/2024, H và cháu V ở tại nhà nghỉ “Hoàng Nguyên”. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H và cháu V quan hệ tình dục với nhau (H không sử dụng bao cao su) và xuất tinh trùng lên bụng của cháu V. Cùng ngày 20/01/2024, H sử dụng 2 (hai) bao cao su đã mua nêu trên để tiếp tục quan hệ tình dục thêm 02 (hai) lần với cháu V. Sau khi quan hệ tình dục xong, H bỏ vỏ và 2 (hai) bao cao su đã sử vào thùng rác của nhà nghỉ “Hoàng Nguyên”. Ngày 21/01/2024, H và cháu V ở tại nhà nghỉ “Hoàng Nguyên” H không quan hệ tình dục. Khoảng 07 giờ ngày 22/01/2024, H sử dụng bao cao su còn lại để quan hệ tình dục với cháu V. Sau khi quan hệ tình dục, H bỏ vỏ và bao cao su đã sử vào thùng rác của nhà nghỉ “Hoàng Nguyên”. Cùng ngày, H và cháu V tiếp tục quan hệ tình dục với nhau thêm 02 (hai) lần đều không sử dụng bao cao su. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển số 47AB – 328.83 chở cháu V đi chơi tại khu vực xã Minh Lập thì gặp mẹ của cháu V là bà Thị C, sinh năm 1989, nơi thường trú: Ấp 2, xã Minh Lập, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Biết việc cháu V bỏ nhà đi không về nên bà C hỏi thì cháu V nói với bà C việc cháu V đã quan hệ tình dục với H. H biết bị gia đình cháu V phát hiện việc H và cháu V quan hệ tình dục với nhau nên H đến Công an xã Minh Lập đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ 03 (ba) sợi tóc tại phòng số 12, nhà nghỉ “Hoàng Nguyên” và 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu trong thùng rác của nhà nghỉ “Hoàng Nguyên” (BL 01-37; 82; 84-91; 94-103; 105-111).

Kết luận giám định số 1132/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trên bao cao su gửi giám định có ADN người. Phân tích kiểu gen cho thấy một mặt bao cao su có ADN trùng với ADN của Cao H và một mặt bao cao su có ADN trùng với ADN của Thị V.

Kết luận giám định số 37/KLTDTE-TTPY ngày 01/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Phước kết luận:

- Màng trinh giãn rộng đường kính 02cm, có vết rách cũ ở vị trí 2 giờ, 4 giờ, 7 giờ và 10 giờ, không bầm tím, không xung huyết.

- Soi tìm không thấy tinh trùng.

- Hiện tại không có thai (BL 68-71).

Về vật chứng vụ án: 02 (hai) bao cao su mà Cao H sử khi quan hệ tình dục với cháu Thị V. H bỏ 02 bao cao su này vào thùng rác của nhà nghỉ “Hoàng Nguyên”. Quá trình khám nghiệm hiện trường không thu hồi được.

- 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu mà Cao H sử khi quan hệ tình dục với cháu Thị V và 03 (ba) sợi tóc được thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường (đi kèm theo hồ sơ vụ án).

Về trách nhiệm dân sự: Bà Đặng T là mẹ ruột bị can Cao H đã thay bị can bồi thường số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) cho bị hại Thị V. Cháu V cùng gia đình không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin rút yêu cầu xử lý hình sự đối với Cao H.

Bản cáo trạng số 41/Ctr-VKS ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Cao H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; các điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51, các điều 38,50, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án 03 năm tù nH hco hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo đồng ý về tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng nH đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: đồng ý về tội danh, điều luật và đề nghị hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Đầu tháng 01/2024 Cao H và cháu Thị V quen biết nhau thông qua ứng dụng hèn hò trên trang mạng xã hội “Litmatch”.

Đến ngày 19/01/2024 H điều khiển xe mô tô đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến xã Minh Lập hẹn gặp cháu V. H thuê phòng số 12 nhà nghỉ “Hoàng Nguyên” tại tổ 2, ấp 2, xã Minh Lập và nhắn tin hẹn cháu V đến cổng nhà nghỉ gặp H, sau đó cả hai đi chơi đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì H chở cháu V về nhà nghỉ “Hoàng Nguyên” để ngủ. Đến ngày 20/01/2024 và ngày 22/01/2024 H và cháu V ở tại nhà nghỉ và H đã 06 lần quan hệ tình dục với cháu V khi cháu V mới được 15 tuổi 01 tháng 19 ngày. Hành vi của Cao H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng số 41/Ctr-VKS ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Cao H theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự phát triển bình thường về thể chất, tâm sinh lý; xâm phạm danh dự, nhân phẩm của trẻ em là khách thể được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 20/01/2024 và ngày 22/01/2024 Cao H đã 06 lần thực hiện quan hệ tình dục với cháu V. Tuy nhiên, đây là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 154 Bộ luật hình sự. Do vậy, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã chủ động ra đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại, bị hại có đơn xin rút yêu cầu xử lý hình sự, cáo có nhân thân tốt. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Từ phân tích trên, HĐXX xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, ngay sau khi sự việc xẩy ra đã chủ động ra đầu thú và đã tự giác khai báo toàn bộ hành vi phạm tội trước đó; bị cáo hiện đang là sinh viên, có nơi cư trú ổn định. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo như đề nghị của đại diện VKS là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

02 (hai) bao cao su mà Cao H sử khi quan hệ tình dục với cháu Thị V. H bỏ 02 bao cao su này vào thùng rác của nhà nghỉ “Hoàng Nguyên”. Quá trình khám nghiệm hiện trường không thu hồi được.

- 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu mà Cao H sử khi quan hệ tình dục với cháu Thị V và 03 (ba) sợi tóc được thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường (đi kèm theo hồ sơ vụ án). Do đó, cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Đặng T là mẹ ruột bị cáo Cao H đã thay bị cáo bồi thường số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) cho bị hại Thị V. Cháu V cùng gia đình không yêu cầu bồi thường gì thêm, bà T cũng không yêu cầu bị cáo có trách nhiệm trả lại tiền nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145; các điểm b,s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38,50 và Điều 65 Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo Cao H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

2.2. Xử phạt bị cáo Cao H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bán án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu mà Cao H sử khi quan hệ tình dục với cháu Thị V và 03 (ba) sợi tóc được thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 ( Hai trăm ngàn) đồng

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ