- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đăng H - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 201 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2024/HS-ST Ngày 30 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Xuân Hưởng
2. Bà Mai Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thuý Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/HSST - QĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Đăng H - Sinh ngày 05/6/1996 tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
Nơi ĐKHKTT: Số nhà A, đường N, tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai
Nơi ở: Số nhà B, đường N, tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn Q - Sinh năm 1970 và bà Trần Thị Tt - Sinh năm 1972; Vợ là Vũ Mai X - Sinh năm 1999; Bị cáo có 01 con sinh năm 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/10/2023 đến ngày 11/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang cư trú tại phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Có mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
+ Chị Trần Thị D - Sinh năm 1985
Nơi cư trú: Số nhà 023, phố Hưng Thịnh, xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
+ Chị Lê Mai L - Sinh năm 1993
Nơi cư trú: Tổ 31, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
+ Anh Hoàng Anh T - Sinh năm 1989
Nơi cư trú: Tổ dân phố Phú Thành 3, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Nguyễn Tiến T – Sinh năm 1991
Nơi cư trú: Thôn Sơn Mãn 1, xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Lương Xuân Đ – Sinh năm 1989
Nơi cư trú: Số 304, đường Bình Minh, phường Xuân Tăng, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Lù Thị S – Sinh năm 1992
Nơi cư trú: Thôn Củm Hạ 1, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Lương Thị Lan A – Sinh năm 2000
Nơi cư trú: Tổ 03, phường Xuân Tăng, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Nguyễn Thị Y – Sinh năm 1974
Nơi cư trú: Tổ 06, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Trần Quốc Q – Sinh năm 1991
Nơi cư trú: Tổ 36, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Nguyễn Thanh H – Sinh năm 1964
Nơi cư trú: Tổ 02, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Nguyễn Thị N – Sinh năm 1958
Nơi cư trú: Tồ 26, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Cao Văn C – Sinh năm 1990
Nơi cư trú: Số nhà 268, đường Nhạc Sơn, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Hoàng Thị Tươi – Sinh năm 1992
Nơi cư trú: Tổ 06, phường Xuân Tăng, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Nguyễn Thị Hạnh – Sinh năm 1989
Nơi cư trú: Tổ 05, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Lê Vĩnh L – Sinh năm 1981
Nơi cư trú: Tổ 01, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Nguyễn Tiến Mạnh – Sinh năm 1995
Nơi cư trú: Tổ 15, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Nguyễn Hữu T – Sinh năm 2000
Nơi cư trú: Tổ 35, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Mai Thị B – Sinh năm 1973
Nơi cư trú: Tổ 32, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Trần Thị L – Sinh năm 1957
Nơi cư trú: Tổ 07, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Phạm Thị H – Sinh năm 1958
Nơi cư trú: Tổ 06, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Đặng Văn D – Sinh năm 1986
Nơi cư trú: Tổ 14, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Đào Thị N – Sinh năm 1956
Nơi cư trú: Tổ 15, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Hoàng Thị Q – Sinh năm 1979
Nơi cư trú: Tổ 32, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Nguyễn Mai A – Sinh năm 1984
Nơi cư trú: Tổ 16, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Vũ Thị H – Sinh năm 1961
Nơi cư trú: Tổ dân phố 02, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Trần Đình H – Sinh năm 1975
Nơi cư trú: Tổ 04, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Lê Xuân Đ – Sinh năm 1987
Nơi cư trú: Tổ 17, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Nông Xuân L – Sinh năm 1983
Nơi cư trú: Tổ 11, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Lý Văn V – Sinh năm 1988
Nơi cư trú: Thôn Cánh Địa, xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Hồ Thị D – Sinh năm 1978
Nơi cư trú: Thôn Làng Pẳng, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Nguyễn Anh Đ – Sinh năm 1983
Nơi cư trú: Tổ 08, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Mai Văn N – Sinh năm 1996
Nơi cư trú: Số nhà 001, đường Trần Quốc Hoàn, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Trần Văn Q – Sinh năm 1998
Nơi cư trú: Số nhà 030, đường Trần Đăng Ninh, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Chị Đinh Thị N – Sinh năm 1969
Nơi cư trú: Tổ 06, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Anh Lê Minh H – Sinh năm 2001
Nơi cư trú: Khối 03, phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. “Vắng mặt”.
- Anh Nguyễn Quang S – Sinh năm 1988
Nơi cư trú: Thôn Hợp Giao, xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 00 giờ 20 phút ngày 29/9/2023 tại đại lộ Trần Hưng Đạo, thành phố Lào Cai, tổ công tác Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Lào Cai tiến hành kiểm tra hành chính đối với anh Trần Quốc Q - Sinh năm 1991, trú tại tổ 36, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai. Quá trình kiểm tra, anh Trần Quốc Q cung cấp hình ảnh căn cước công dân chụp trong điện thoại có kèm theo hình ảnh giấy bán xe của Trần Quốc Q cho Vũ Đăng H - Sinh năm 1996, trú tại tổ 32, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai và khai nhận do bản thân anh Trần Quốc Q đang vay nợ của Vũ Đăng H số tiền 20.000.000 đồng nên anh Trần Quốc Q phải viết giấy bán xe để đảm bảo cho khoản vay này. Trên cơ sở đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã triệu tập Vũ Đăng H đến để làm việc. Căn cứ quá trình xác minh, ngày 01/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Đăng H tại số nhà 421, đường Nhạc Sơn, tổ 32, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai. Quá trình khám xét đã tạm giữ: 01 túi giả da màu đen có chữ “THE BRAN DIE WELTMAR LA MAR adidas”; 10 xe mô tô nhãn hiệu các loại, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen BKS 24B1 - 643.50; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu đen BKS 24K9 - 87.66; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24B2
- 650.61; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM BKS màu nâu 24K1 - 3790; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng BKS 24B2 - 436.52; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES màu trắng BKS 29S6 - 138.50; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM màu nâu BKS 88F1 - 127.32; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE BKS 24B2 - 320.99;
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24B1
- 375.67; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B1 - 406.76; 01 đầu thu camera Ajhua màu đen; 26.817.000 tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
07 căn cước công dân của Vũ 02 chứng minh nhân dân của Vũ Đăng H, Lê Minh H; Đăng H, Lù Thị S, Đào Hoài Cường,
Lương Thị Lan A, Nguyễn Hữu T, Lèng Văn Son, Lương Xuân Đ; 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2 mang tên Vũ Đăng H; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Đình H; 01 giấy vay tiền mặt (Mẫu in sẵn); 01 giấy bán xe (Mẫu in sẵn); 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 màu trắng số IMEI 359676576790822, bên trong lắp 01 sim điện thoại số 0961.685.696; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu trắng số IMEI 352916113530951, bên trong lắp 01 sim điện thoại số 0866.005.696; 01 hợp đồng thuê nhà giữa Vũ Đăng H và Bùi Tiến Bình; 13 giấy vay tiền, người vay là Nguyễn Hữu T (Ngày 12/9/2023), Mai Thị B (Ngày 01/9/2023), Trần Thị Lưu (Ngày 25/9/2023), Hoàng Thị Q (Ngày 31/8/2023), Phạm Thị H (Ngày 21/9/2023), Lê Minh H (Ngày 19/9/2023), Vũ Thị H (Ngày 21/9/2023), Nguyễn Mai A (Ngày 28/8/2023), Đào Thị N (Ngày 28/8/2023 – 02 giấy), Nguyễn Quang S (Ngày 25/9/2023); Trần Đình H (Ngày 29/9/2023), Đặng Văn D (Ngày 29/9/2023); 55 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Văn Bình, Nguyễn Thị Hạnh, Sùng Seo Mùa, Trương Thị Tình, Hồ Thị Thu, Lý Láo Cáo, Sùng Thị Linh, Phạm Văn Cương, Lý Láo Tả, Vũ Đăng H, Triệu Thị Khoai, Đặng Thị An, Lò A Lùng, Phạm Thị Hoa, Hoàng Văn Tiến, Sùng A Chảo, Hoàng Văn Nghiệp, Đỗ Khắc Đạt, Đặng Thị Hoa, Giàng A Cấu, Nguyễn Bảo Minh, Lục Văn Thự, Bàn Đức Hạnh, Tẩn Sử Quồi, Hoàng Văn Hùng, Đỗ Mạnh Thưởng, Vũ Thị Tư, Hoàng Văn Lý, Đặng Văn Sửa, Giàng A Sa, Đỗ Thị Hồng Liên, Lục Văn Phong, Hoàng Thị Nơi, Nông Văn Hoàn, Lò Văn Sơn, Châu A Máo, Hoàng Văn Luân, Nông Thị Cúc, Nguyễn Tân Thành, Chảo Láo Ú, Đỗ Văn Hồng, Nguyễn Văn Nhật, Lự Thị Thao, Trịnh Minh Đức, Hoàng Văn Hưng, Nguyễn Văn Nông, Nguyễn Thị Hiên, Nguyễn Anh Đ, Hà Thị Hồng, Nguyễn Thế Nam, Tráng A Lềnh, Đường Vinh Tuấn, Trần Thị Xuyến, Nông Xuân L, Giàng A Cha; 03 (Ba) quyển giấy mua bán xe (Mẫu in sẵn); 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh của Vũ Đăng H; 07 giấy mua bán xe, người bán Lý Văn V (Ngày 14/9/2023), Hồ Thị D (Ngày 17/8/2023), Lê Xuân Đ (Ngày 29/11/2022), Mai Văn N (Ngày 28/9/2023), Nông Xuân L (Ngày 20/11/2022), Mai Văn N (Ngày 08/9/2023), Nguyễn Anh Đ (Ngày 09/9/2023). Cùng ngày, Vũ Đăng H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai 47 xe mô tô nhãn hiệu các loại, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu đen BKS 24B2 – 414.02; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu vàng BKS 24Y1 – 152.64; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu vàng BKS 24B2 – 178.09; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24Y1 – 043.68; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24B1 – 983.28; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24Y1 – 120.12; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu trắng BKS 24B2 – 283.20; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 – 297.55; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24Y1 – 178.55; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24B2 – 643.69; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ trắng BKS 24Y1 – 195.06; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ trắng BKS 24B2 – 907.63; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 – 819.42; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ (Xe không lắp BKS); 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 – 751.65; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 – 786.92; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24B2 – 895.19; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24S1 – 127.96; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đen BKS 24Y1 – 197.46; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu xanh đen BKS 24B2 – 803.20; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu đen BKS 24B2 – 897.37; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu cam BKS 24B1 – 905.90; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đen BKS 24T1 – 108.83; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng BKS 24V1 – 265.27; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng BKS 24B2 – 905.14; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24B1 – 902.90; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i màu đen BKS 24B1 – 992.20; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen BKS 24B3 – 198.21; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng 24B2 – 848.50; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen BKS 24Z1 – 109.94; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ BKS 24B2 – 685.90; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu trắng BKS 24B2 – 591.77; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu trắng BKS 24B2 – 985.13; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xanh BKS 24X1 – 110.42; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xanh BKS 24Y1 – 230.05; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B3 – 119.83; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24V1 – 244.58; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B2 – 957.20; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xanh BKS 24B3 – 087.20; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B3 – 088.81; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER màu cam đen BKS 24B2 – 873.46; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu cam đen BKS 24B2 – 980.76; 01 xe mô tô nhãn hiệu EXCITER màu ghi BKS 24B2 – 525.70; 01 xe mô tô nhãn hiệu EXCITER màu trắng BKS 24Y1 – 217.10; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu xanh đen BKS 24B2 – 940.61; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu xám đen BKS 24B2 – 923.55; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i màu trắng BKS 24B2 – 688.41.
Quá trình điều tra bị cáo Vũ Đăng H khai nhận: Tháng 7 năm 2019, Vũ Đăng H bắt đầu đăng ký và thực hiện hoạt động ngành nghề kinh doanh mua bán, ký gửi xe máy cũ, mới tại địa điểm số nhà 095, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, tổ 38, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cao, đến năm 2021, Vũ Đăng H chuyển hoạt động kinh doanh trên đến số nhà 421, đường Nhạc Sơn, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai và Vũ Đăng H có thuê anh Vi Hoàng Anh- Sinh năm 2003; Trú tại thôn 05, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai để giúp việc tại cửa hàng. Tại đây, do muốn có thêm tiền tiêu xài cá nhân nên Vũ Đăng H đã nảy sinh và bắt đầu thực hiện hành vi cho vay tiền với lãi suất cao. Để thực hiện hành vi cho vay, Vũ Đăng H đã sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 màu trắng bên trong lắp sim điện thoại số “0961.685.696” để tiếp nhận, trao đổi với người vay tiền. Bên cạnh đó, Vũ Đăng H còn sử dụng tài khoản ngân hàng Vietcombank số 0951004180617 và tài khoản ngân hàng MBBank số 8696969999 đều mang tên Vũ Đăng H để chuyển tiền cho người vay cũng như nhận tiền gốc, lãi do người vay chuyển đến. Người vay tiền có thể liên lạc qua điện thoại hoặc trực tiếp đến cửa hàng mua bán xe máy cũ của Vũ Đăng H tại số nhà 421, đường Nhạc Sơn, tổ 32, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai để vay tiền bằng 03 hình thức, cụ thể như sau:
Đối với hình thức vay bốc bát họ gồm: Đối với bát 5.000.000 đồng, Vũ Đăng H sẽ yêu cầu người vay hàng ngày phải trả 150.000 đồng, trong đó gồm 125.000 đồng tiền gốc và 25.000 đồng tiền lãi trong thời hạn 40 ngày, kể từ ngày vay và Vũ Đăng H sẽ thu lãi 1.000.000 đồng đối với bát vay này; Đối với bát 10.000.000 đồng, Vũ Đăng H sẽ yêu cầu người vay hàng ngày phải trả 300.000 đồng, trong đó gồm 250.000 đồng tiền gốc và 50.000 đồng tiền lãi trong thời hạn 40 ngày, kể từ ngày vay và Vũ Đăng H sẽ thu lãi 2.000.000 đồng đối với bát vay này. Như vậy cả hai bát vay này, Vũ Đăng H đều được hưởng tiền lãi là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương với lãi suất 182,5%/năm (Gấp 9,1 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự).
Đối với hình thức vay tiền dưới dạng cầm cố tài sản (Thường là xe mô tô) và trả lãi theo tháng hoặc ngày: Vũ Đăng H sẽ yêu cầu người vay tiền phải viết giấy bán xe theo mẫu mà Vũ Đăng H đã in sẵn, số tiền mà người vay muốn vay tiền tương ứng với số tiền bán xe được ghi trong giấy và giấy này do Vũ Đăng H giữ. Sau khi nhận được tiền vay từ Vũ Đăng H, người vay tiền sẽ có trách nhiệm chuyển lại xe mô tô, đăng ký xe cho Vũ Đăng H và trả lãi theo ngày hoặc tháng tương ứng đến khi trả xong tiền gốc thì Vũ Đăng H sẽ huỷ giấy bán xe và trả lại xe mô tô, đăng ký xe cho người vay. Đối với hình thức vay này, người vay phải chịu lãi suất 3.333 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương với lãi suất 117,74%/năm (Gấp 5,9 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự).
Đối với hình thức vay tiền dưới dạng không cầm cố tài sản và trả lãi theo tháng hoặc ngày: Vũ Đăng H sẽ yêu cầu người vay tiền phải viết giấy vay tiền theo mẫu mà Vũ Đăng H đã in sẵn và giấy này do Vũ Đăng H giữ, người vay có thể để lại giấy tờ tuỳ thân. Sau khi nhận được tiền vay từ Vũ Đăng H, người vay tiền sẽ có trách nhiệm trả lãi theo ngày hoặc tháng đến khi trả xong tiền gốc thì Vũ Đăng H sẽ huỷ giấy vay tiền. Đối với hình thức vay này, người vay phải chịu lãi suất dao động từ 3.333 đồng - 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương với lãi suất từ 117,74%/năm đến 182,5%/năm (Gấp từ 5,9 – 9,1 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự).
Ngày 05/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã ra lệnh phong toả tài khoản ngân hàng Vietcombank số 0951004180617 của Vũ Đăng H đối với số tiền 25.430.584 đồng (Hai mươi lăm triệu bốn trăm ba mười nghìn năm trăm tám mươi tư đồng) và tài khoản ngân hàng MBBank số 8696969999 của Vũ Đăng H đối với số tiền 32.261.446 đồng (Ba mươi hai triệu hai trăm sáu mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi sáu đồng)
Trên cơ sở kiểm tra dữ liệu điện thoại, vật chứng, sao kê tài khoản ngân hàng của Vũ Đăng H và các cá nhân có liên quan xác định trong khoảng thời gian từ 28/12/2020 đến ngày 29/9/2023, Vũ Đăng H đã cho 36 người vay tiền, cụ thể:
1. Trần Thị D - Sinh năm 1985; Trú tại SN 023, phố Hưng Thịnh, xã Vạn Hoà, thành phố Lào Cai: Trong khoảng thời gian từ 28/12/2020 đến ngày 07/9/2023, chị Trần Thị D đã nhờ chị Nguyễn Thị Thu -Sinh năm 1989; Trú tại số nhà 341, đường Điện Biên, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai) vay tiền 02 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 40.000.000 đồng dưới hình thức vay không cầm cố tài sản, cụ thể:
Lần 01: Ngày 28/12/2020, Trần Thị D nhờ Nguyễn Thị Thu vay của Vũ Đăng H số tiền 20.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 2.400.000 đồng/tháng và trả vào ngày 28 hàng tháng. Đến ngày 30/01/2022, Trần Thị D đã thanh toán cho Vũ Đăng H số tiền gốc 20.000.000 đồng và 13 tháng tiền lãi = 31.200.000 đồng, tương đương lãi suất 143,79%/năm, số tiền thu lợi bất chính 26.860.274 đồng.
Lần 02: Ngày 07/9/2022, Trần Thị D nhờ Nguyễn Thị Thu vay của Vũ Đăng H số tiền 20.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 2.200.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 07 hàng tháng. Đến ngày 07/9/2023, Trần Thị D đã thanh toán cho Vũ Đăng H số tiền gốc 20.000.000 đồng và 12 tháng tiền lãi = 26.400.000 đồng, tương đương lãi suất 132%/năm, số tiền thu lợi bất chính 22.400.000 đồng.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 02 lần vay tiền của chị Trần Thị D tổng số tiền là 49.260.274 đồng.
2. Lê Mai L - Sinh năm 1992; Trú tại tổ 31, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Trong khoảng thời gian từ 12/01/2022 đến ngày 09/5/2022, Lê Mai L đã vay tiền 02 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 20.000.000 đồng dưới hình thức vay không cầm cố tài sản, trả lãi theo tháng, cụ thể:
Lần 01: Ngày 12/01/2022, Lê Mai L vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày 12 hàng tháng. Đến ngày 06/5/2022, Lê Mai L đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 10.000.000 đồng và 114 ngày tiền lãi = 5.700.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 5.075.342 đồng.
Lần 02: Ngày 09/5/2022, Lê Mai L vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 09 hàng tháng. Đến ngày 09/9/2023, Lê Mai L đã trả cho Vũ Đăng H 488 ngày tiền lãi = 24.000.000 đồng, tương đương lãi suất 179,51%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 21.326.027 đồng. Hiện tại, chị Lê Mai L đã trả 7.000.000 đồng tiền gốc cho Vũ Đăng H và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 3.000.000 đồng đã vay.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 02 lần vay tiền của chị Lê Mai L tổng số tiền là 26.401.369 đồng.
3. Hoàng Anh T - Sinh năm 1989; Trú tại: Tổ dân phố Phú Thành 03, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai: Ngày 24/02/2021, anh Hoàng Anh T đã nhờ chị Lê Mai L vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày 24 hàng tháng. Đến ngày 06/8/2021, Hoàng Anh T đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 10.000.000 đồng và 163 ngày lãi = 8.100.000 đồng, tương đương lãi suất 181,38%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 7.206.849 đồng.
4. Nguyễn Tiến T - Sinh năm 1991; Trú tại thôn Sơn Mãn 01, xã Vạn Hoà, thành phố Lào Cai: Trong khoảng thời gian từ 20/01/2022 đến ngày 16/9/2022, Nguyễn Tiến T đã vay tiền 03 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 40.000.000 đồng dưới hình thức vay không cầm cố tài sản, trả lãi theo tháng, cụ thể:
Lần 01: Ngày 20/01/2022, Nguyễn Tiến T vay của Vũ Đăng H số tiền 20.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 2.000.000 đồng/tháng và trả vào ngày 20 hàng tháng. Đến ngày 24/7/2022, Nguyễn Tiến T đã thanh toán cho Vũ Đăng H số tiền gốc 20.000.000 đồng và 06 tháng tiền lãi = 12.000.000 đồng, tương đương lãi suất 120,33%/năm, số tiền thu lợi bất chính 10.005.480 đồng.
Lần 02: Ngày 13/8/2022, Nguyễn Tiến T vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 1.000.000 đồng/tháng và trả vào ngày 13 hàng tháng. Đến ngày 16/9/2023, Nguyễn Tiến T đã thanh toán cho Vũ Đăng H 01 tháng tiền lãi = 1.000.000 đồng, tương đương lãi suất 117,74%/năm, số tiền thu lợi bất chính 830.137 đồng.
Lần 03: Ngày 16/9/2022, Nguyễn Tiến T vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, Vũ Đăng H đã cộng với tiền gốc của khoản vay ngày 13/8/2022 mà Nguyễn Tiến T chưa trả được thành khoản vay 20.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 2.000.000 đồng/tháng, tương đương lãi suất 120%/năm. Đến ngày 28/9/2023, Nguyễn Tiến T đã thanh toán cho Vũ Đăng H 12 tháng tiền lãi = 24.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 20.000.000 đồng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Tiến T chưa thanh toán tiền gốc 20.000.000 đồng.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 03 lần vay tiền của anh Nguyễn Tiến T tổng số tiền là 30.835.617 đồng.
5. Lương Xuân Đ - Sinh năm 1989; Trú tại SN 304, đường Bình Minh, phường Xuân Tăng, thành phố Lào Cai: Ngày 25/3/2022, Lương Xuân Đ đã vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày 25 hàng tháng. Đến ngày 25/9/2023, Lương Xuân Đ đã thanh toán cho Vũ Đăng H 18 tháng tiền lãi = 27.000.000 đồng, tương đương lãi suất 179,51%/năm, số tiền thu lợi bất chính 23.991.781 đồng. Đối với khoản vay này, Lương Xuân Đ chưa thanh toán tiền gốc 10.000.000 đồng.
6. Lù Thị S - Sinh năm 1992; Trú tại thôn Củm Hạ 01, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai: Ngày 13/11/2022, chị Lù Thị S đã vay tiền của Vũ Đăng H với số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng, trả vào ngày 13 hàng tháng. Đến ngày 27/9/2023, Lù Thị S đã thanh toán cho Vũ Đăng H 11 tháng tiền lãi = 16.500.000 đồng, tương đương lãi suất 180,31%/năm, số tiền thu lợi bất chính 14.669.864 đồng. Đối với khoản vay này, Lù Thị S chưa thanh toán tiền gốc 10.000.000 đồng.
7. Lương Thị Lan A - Sinh năm 2000; Trú tại tổ 03, phường Xuân Tăng, thành phố Lào Cai: Ngày 05/4/2023, chị Lương Thị Lan A đã vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng. Đến ngày 26/9/2023, Lương Thị Lan A đã thanh toán cho Vũ Đăng H 05 tháng tiền lãi = 7.500.000 đồng, tương đương lãi suất 178,92%/năm, số tiền thu lợi bất chính 6.661.644 đồng. Đối với khoản vay này, Lương Thị Lan A chưa thanh toán tiền gốc 10.000.000 đồng.
8. Nguyễn Thị Y - Sinh năm 1974; Trú tại tổ 06, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Trong khoảng thời gian từ 16/6/2023 đến ngày 17/9/2023, Nguyễn Thị Y đã vay tiền 03 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 20.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 01: Ngày 10/7/2023, Nguyễn Thị Y vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận lãi suất 750.000 đồng/tháng và trả vào 02 lần vào ngày mùng 10 và 25 hàng tháng. Đến ngày 25/9/2023, Nguyễn Thị Y đã trả cho Vũ Đăng H 77 ngày tiền lãi = 3.750.000 đồng, tương đương lãi suất 177,76%/năm, số tiền thu lợi bất chính 3.328.082 đồng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Thị Y chưa thanh toán tiền gốc 10.000.000 đồng.
Lần 02: Ngày 01/8/2023, Nguyễn Thị Y vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng bằng hình thức bốc bát họ, thoả thuận mỗi ngày Nguyễn Thị Y phải trả 150.000 đồng, gồm 125.000 đồng tiền gốc và 25.000 đồng tiền lãi trong vòng 40 ngày. Đối với khoản vay này, Nguyễn Thị Y đã thanh toán đủ cho Vũ Đăng H 6.000.000 đồng gồm 5.000.000 đồng tiền gốc và 1.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 890.411 đồng.
Lần 03: Ngày 17/9/2023, Nguyễn Thị Y vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng bằng hình thức bốc bát họ, thoả thuận mỗi ngày Nguyễn Thị Y phải trả 150.000 đồng, gồm 125.000 đồng tiền gốc và 25.000 đồng tiền lãi trong vòng 40 ngày. Đối với khoản vay này, Nguyễn Thị Y đã thanh toán cho Vũ Đăng H 12 ngày là 1.800.000 đồng gồm 1.500.000 đồng tiền gốc và 300.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 267.123 đồng. Hiện tại, Nguyễn Thị Y vẫn nợ gốc số tiền 3.500.000 đồng đã vay của Vũ Đăng H.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 03 lần vay tiền của chị Nguyễn Thị Y tổng số tiền là 4.485.616 đồng.
9. Đinh Thị N - Sinh năm 1969; Trú tại tổ 06, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Ngày 16/6/2023, chị Đinh Thị N đã nhờ chị Nguyễn Thị Y vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức bốc bát họ, thoả thuận mỗi ngày phải trả 300.000 đồng, gồm 250.000 đồng tiền gốc và 50.000 đồng tiền lãi trong vòng 40 ngày. Đối với khoản vay này, Đinh Thị N đã thanh toán đủ cho Vũ Đăng H 12.000.000 đồng, gồm 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 182,5%%/năm, số tiền thu lợi bất chính 1.780.822 đồng.
10. Trần Quốc Q: Trong khoảng thời gian từ 19/9/2023 đến ngày 25/9/2023, Trần Quốc Q đã 02 lần vay tiền của Vũ Đăng H bằng hình thức vay cầm cố tài sản với tổng số tiền 40.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 01: Ngày 19/9/2023, Trần Quốc Q vay của Vũ Đăng H số tiền 20.000.000 đồng bằng hình thức cầm cố tài sản là xe mô tô BKS 24B1 – 806.40, thoả thuận lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, nếu Trần Quốc Q vay khoảng một tuần thì Trần Quốc Q và Vũ Đăng H sẽ trao đổi trực tiếp. Ngày 22/9/2023, Trần Quốc Q đã thanh toán cho Vũ Đăng H số tiền 20.300.000 đồng, trong đó có 20.000.000 đồng tiền gốc và 300.000 đồng tiền lãi 04 ngày (Từ 19/9/2023 đến ngày 22/9/2023), tương đương lãi suất 136,88%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 256.164 đồng.
Lần 02: Ngày 25/9/2023, Trần Quốc Q vay của Vũ Đăng H số tiền 20.000.000 đồng bằng hình thức không cầm cố tài sản. Đến ngày 30/9/2023, Trần Quốc Q đã thanh toán cho Vũ Đăng H số tiền 20.600.000 đồng, trong đó có 20.000.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi 06 ngày (Từ ngày 25/9/2023 đến ngày 30/9/2023), tương đương lãi suất 182,5%, số tiền thu lợi bất chính 534.247 đồng.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 02 lần vay tiền của anh Trần Quốc Q tổng số tiền là 790.411 đồng.
11. Nguyễn Thanh H - Sinh năm 1964; Trú tại tổ 02, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Trong khoảng thời gian từ 19/02/2023 đến ngày 16/6/2023, Nguyễn Thanh H đã vay tiền 03 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 25.000.000 đồng dưới hình thức vay không cầm cố tài sản, cụ thể:
Lần 01: Ngày 19/02/2023, Nguyễn Thanh H vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 19 hàng tháng. Đến ngày 30/9/2023, Nguyễn Thanh H đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 10.000.000 đồng và 07 tháng tiền lãi = 10.500.000 đồng, tương đương lãi suất 180,79%/năm, số tiền thu lợi bất chính 9.338.356 đồng.
Lần 02: Ngày 14/5/2023, Nguyễn Thanh H vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 14 hàng tháng. Đến ngày 14/6/2023, Nguyễn Thanh H đã trả Vũ Đăng H 01 tháng tiền lãi = 1.500.000 đồng, tương đương lãi suất 176,61%/năm, số tiền thu lợi bất chính 1.330.137 đồng.
Lần 03: Ngày 16/6/2023, Nguyễn Thanh H vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, Vũ Đăng H đã cộng với khoản tiền vay ngày 14/5/2023 mà Nguyễn Thanh H còn nợ gốc số tiền 5.000.000 đồng thành khoản vay 10.000.0000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 16 hàng tháng. Đến ngày 30/9/2023, Nguyễn Thanh H đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 10.000.000 đồng và 03 tháng 15 ngày tiền lãi = 5.250.000 đồng, tương đương lãi suất 179,09%/năm, số tiền thu lợi bất chính 4.663.699 đồng.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 03 lần vay tiền của chị Nguyễn Thanh H tổng số tiền là 15.332.192 đồng.
12. Nguyễn Thị N - Sinh năm 1958; Trú tại tổ 26, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai: Trong khoảng thời gian từ 25/02/2022 đến ngày 09/4/2023, Nguyễn Thị N đã vay tiền 10 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 78.000.000 đồng dưới hình thức vay không cầm cố tài sản, cụ thể:
Lần 01: Ngày 25/02/2022, Nguyễn Thị N vay của Vũ Đăng H số tiền 15.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 2.250.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 25 hàng tháng. Đến ngày 22/3/2022, Nguyễn Thị N đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 15.000.000 đồng và 28 ngày tiền lãi = 2.100.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 1.869.863 đồng.
Lần 02: Ngày 18/4/2022, Nguyễn Thị N vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 18 hàng tháng. Đến ngày 26/5/2022, Nguyễn Thị N đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 10.000.000 đồng và 36 ngày tiền lãi = 1.800.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 1.602.740 đồng.
Lần 03: Ngày 07/6/2022, Nguyễn Thị N vay của Vũ Đăng H số tiền 15.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 2.2500.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 07 hàng tháng. Đến ngày 15/7/2022, Nguyễn Thị N đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 15.000.000 đồng và 33 ngày tiền lãi = 2.475.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 2.203.767 đồng.
Lần 04: Ngày 26/7/2022, Nguyễn Thị N vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày 26 hàng tháng. Đến ngày 02/9/2022, Nguyễn Thị N đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 15.000.000 đồng và 36 ngày tiền lãi = 900.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 801.370 đồng.
Lần 05: Ngày 14/10/2022, Nguyễn Thị N vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày 14 hàng tháng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Thị N đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 5.000.000 đồng và 81 ngày tiền lãi = 2.025.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 1.803.082 đồng.
Lần 06: Ngày 15/10/2022, Nguyễn Thị N vay của Vũ Đăng H số tiền 4.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 600.000 đồng/tháng và trả vào ngày 15 hàng tháng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Thị N đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 4.000.000 đồng và 41 ngày tiền lãi = 820.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 730.137 đồng.
Lần 07: Ngày 31/10/2022, Nguyễn Thị N vay của Vũ Đăng H số tiền 4.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 600.000 đồng/tháng và trả vào ngày 15 hàng tháng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Thị N đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 5.000.000 đồng và 26 ngày tiền lãi = 520.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 463.014 đồng.
Lần 08: Ngày 29/11/2022, Nguyễn Thị N vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày 29 hàng tháng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Thị N đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 5.000.000 đồng và 37 ngày tiền lãi = 925.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 823.630 đồng.
Lần 09: Ngày 04/4/2023, Nguyễn Thị N vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày 04 hàng tháng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Thị N đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 10.000.000 đồng và 80 ngày tiền lãi = 4.000.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 3.561.644 đồng.
Lần 10: Ngày 09/4/2023, Nguyễn Thị N vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày 09 hàng tháng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Thị N đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 5.000.000 đồng và 68 ngày tiền lãi = 1.700.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 1.513.699 đồng.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 10 lần vay tiền của chị Nguyễn Thị N tổng số tiền là 15.372.946 đồng.
13. Cao Văn C - Sinh năm 1990; Trú tại số nhà 268, đường Nhạc Sơn, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai: Trong khoảng thời gian từ 10/12/2022 đến ngày 23/6/2023, Cao Văn C đã vay tiền 04 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 30.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 01: Ngày 10/12/2022, Cao Văn C vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.000.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 10 hàng tháng bằng hình thức cầm cố xe mô tô BKS 24B2 – 096.26. Ngày 10/4/2023, Cao Văn C đã trả 5.000.000 đồng tiền nợ gốc cho Vũ Đăng H và 121 ngày tiền lãi = 4.000.000 đồng, tương đương lãi suất 120,66%/năm, số tiền thu lợi bất chính 3.336.986 đồng. Đối với số tiền 5.000.000 đồng nợ gốc còn lại, Vũ Đăng H thoả thuận lãi suất 500.000 đồng/tháng. Đến ngày 11/6/2023, Cao Văn C đã trả 5.000.000 đồng tiền nợ gốc cho Vũ Đăng H và 61 ngày tiền lãi = 1.000.000 đồng, tương đương lãi suất 119,67%/năm, số tiền thu lợi bất chính 832.877 đồng.
Lần 02: Ngày 22/4/2023, Cao Văn C vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 500.000 đồng/tháng bằng hình thức cầm cố xe mô tô BKS 24B2 – 096.26. Ngày 22/5/2023, Cao Văn C đã trả cho Vũ Đăng H 5.000.000 đồng tiền gốc và 01 tháng tiền lãi = 500.000 đồng, tương đương lãi suất 121,67%/năm, số tiền thu lợi bất chính 417.802 đồng.
Lần 03: Ngày 14/5/2023, Cao Văn C vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.000.000 đồng/tháng và trả vào ngày 14 hàng tháng bằng hình thức cầm cố xe mô tô BKS 24B2 – 096.26. Đến ngày 19/9/2023, Cao Văn C đã trả cho Vũ Đăng H 04 tháng tiền lãi (123 ngày) = 4.000.000 đồng, tương đương lãi suất 118,7%/năm, số tiền thu lợi bất chính 3.326.027 đồng. Đối với khoản vay này, anh Cao Văn C vẫn nợ tiền gốc 10.000.000 đồng.
Lần 04: Ngày 23/6/2023, Cao Văn C vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 500.000 đồng/tháng bằng hình thức không cầm cố tài sản. Đến ngày 23/7/2023, Cao Văn C đã trả cho Vũ Đăng H 5.000.000 đồng tiền gốc và 01 tháng tiền lãi = 500.000 đồng, tương đương lãi suất 121,67%/năm, số tiền thu lợi bất chính 417.802 đồng.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 04 lần vay tiền của anh Cao Văn C tổng số tiền là 8.331.494 đồng.
14. Hoàng Thị Tươi - Sinh năm 1992; Trú tại tổ 06, phường Xuân Tăng, thành phố Lào Cai: Ngày 20/7/2023, chị Hoàng Thị Tươi đã vay của Vũ Đăng H số tiền 15 triệu đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 2.250.00.000 đồng/tháng và trả vào ngày 20 hàng tháng. Đến ngày 27/9/2023, Hoàng Thị Tươi đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 15.000.000 đồng và 69 ngày lãi = 5.100.000 đồng, tương đương lãi suất 179,86%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 4.532.877 đồng.
15. Nguyễn Thị Hạnh - Sinh năm 1989; Trú tại tổ 05, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai: Trong khoảng thời gian từ 05/7/2021 đến ngày 30/5/2023, Nguyễn Thị Hạnh đã vay tiền 03 lần của Vũ Đăng H bằng hình thức không cầm cố tài sản với tổng số tiền 20.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 01: Ngày 05/7/2021, Nguyễn Thị Hạnh vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 05 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đến ngày 05/6/2022, Nguyễn Thị Hạnh đã trả cho Vũ Đăng H 5.000.000 đồng tiền gốc và 11 tháng tiền lãi (335 ngày) = 8.250.000 đồng, tương đương lãi suất 179,78%/năm, số tiền thu lợi bất chính 7.332.192 đồng.
Lần 02: Ngày 11/10/2022, Nguyễn Thị Hạnh vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày 11 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đến ngày 31/3/2023, Nguyễn Thị Hạnh đã trả cho Vũ Đăng H 5.000.000 đồng tiền gốc và 05 tháng 20 ngày tiền lãi (172 ngày) = 4.250.000 đồng, tương đương lãi suất 180,38%/năm, số tiền thu lợi bất chính 3.778.767 đồng.
Lần 03: Ngày 30/5/2023, Nguyễn Thị Hạnh vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày 30 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đến ngày 30/8/2023, Nguyễn Thị Hạnh đã trả cho Vũ Đăng H 92 ngày tiền lãi = 4.500.000 đồng, tương đương lãi suất 178,53%/năm, số tiền thu lợi bất chính 3.995.890 đồng. Đối với khoản vay này, chị Nguyễn Thị Hạnh vẫn nợ tiền gốc 10.000.000 đồng.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 03 lần vay tiền của chị Nguyễn Thị Hạnh tổng số tiền là 15.106.849 đồng.
16. Lê Vĩnh L - Sinh năm 1981; Trú tại tổ 01, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai: Trong khoảng thời gian từ 04/9/2021 đến ngày 16/01/2023, Lê Vĩnh L đã vay tiền 03 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 45.000.000 đồng bằng hình thức không cầm cố tài sản, cụ thể:
Lần 01: Ngày 04/9/2021, Lê Vĩnh L vay của Vũ Đăng H số tiền 15.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.800.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 04 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đến ngày 04/10/2022, Lê Vĩnh L đã trả cho Vũ Đăng H 15.000.000 đồng tiền gốc và 13 tháng tiền lãi (395 ngày) = 23.400.000 đồng, tương đương lãi suất 144,15%/năm, số tiền thu lợi bất chính 20.153.425 đồng.
Lần 02: Ngày 09/11/2022, Lê Vĩnh L vay của Vũ Đăng H số tiền 15.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.800.000 đồng/tháng và trả vào ngày mùng 09 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đến ngày 28/12/2022, Lê Vĩnh L đã trả cho Vũ Đăng H 15.000.000 đồng tiền gốc và 50 ngày tiền lãi = 2.950.000 đồng, tương đương lãi suất 143,57%/năm, số tiền thu lợi bất chính 2.539.041 đồng.
Lần 03: Ngày 16/01/2023, Lê Vĩnh L vay của Vũ Đăng H số tiền 15.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.800.000 đồng/tháng và trả vào ngày 16 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đến giữa tháng 10/2023, Lê Vĩnh L đã trả cho Vũ Đăng H 15.000.000 đồng tiền gốc và 08 tháng tiền lãi (243 ngày) = 14.400.000 đồng, tương đương lãi suất 144,20%/năm, số tiền thu lợi bất chính 12.402.740 đồng.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 03 lần vay tiền của anh Lê Vĩnh L tổng số tiền là 35.095.206 đồng.
17. Nguyễn Tiến Mạnh - Sinh năm 1995; Trú tại tổ 15, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai: Trong khoảng thời gian từ 21/7/2021 đến ngày 26/8/2022, Nguyễn Tiến Mạnh đã vay tiền 06 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 60.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, cụ thể:
Lần 01: Ngày 21/7/2021, Nguyễn Tiến Mạnh vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày 21 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đến ngày 24/12/2021, Nguyễn Tiến Mạnh đã trả cho Vũ Đăng H 10.000.000 đồng tiền gốc và 04 tháng tiền lãi (123 ngày) = 6.000.000 đồng, tương đương lãi suất 178,05%/năm, số tiền thu lợi bất chính 5.326.027 đồng.
Lần 02: Ngày 30/10/2021, Nguyễn Tiến Mạnh vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày 30 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đến ngày 24/12/2021, Nguyễn Tiến Mạnh đã trả cho Vũ Đăng H 5.000.000 đồng tiền gốc và 01 tháng 24 ngày tiền lãi (55 ngày) = 1.450.000 đồng, tương đương lãi suất 192,45%/năm, số tiền thu lợi bất chính 1.299.315 đồng.
Lần 03: Ngày 15/01/2022, Nguyễn Tiến Mạnh vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng và trả vào ngày 15 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Tiến Mạnh đã trả cho Vũ Đăng H 10.000.000 đồng tiền gốc và 90 ngày tiền lãi = 4.500.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 4.006.849 đồng.
Lần 04: Ngày 19/01/2022, Nguyễn Tiến Mạnh vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày 19 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Tiến Mạnh đã trả cho Vũ Đăng H 5.000.000 đồng tiền gốc và 90 ngày tiền lãi = 2.250.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 2.003.425 đồng.
Lần 05: Ngày 20/7/2022, Nguyễn Tiến Mạnh vay của Vũ Đăng H số tiền 15.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 2.250.000 đồng/tháng và trả vào ngày 20 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đến ngày 20/8/2022, Nguyễn Tiến Mạnh đã trả cho Vũ Đăng H 15.000.000 đồng tiền gốc và 01 tháng tiền lãi (31 ngày) = 2.250.000 đồng, tương đương lãi suất 176,61%/năm, số tiền thu lợi bất chính 1.995.205 đồng.
Lần 06: Ngày 26/8/2022, Nguyễn Tiến Mạnh vay của Vũ Đăng H số tiền 15.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 2.250.000 đồng/tháng và trả vào ngày 26 hàng tháng bằng hình thức trả lãi theo tháng. Đến ngày 10/9/2022, Nguyễn Tiến Mạnh đã trả cho Vũ Đăng H 15.000.000 đồng tiền gốc và 15 ngày tiền lãi = 1.100.000 đồng, tương đương lãi suất 178,44%/năm, số tiền thu lợi bất chính 976.712 đồng.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 06 lần vay tiền của anh Nguyễn Tiến Mạnh tổng số tiền là 15.607.533 đồng.
18. Nguyễn Hữu T - Sinh năm 2000; Trú tại tổ 35, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Ngày 12/9/2023, Nguyễn Hữu T đã vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 1.500.00.000 đồng/tháng và trả 03 lần trong tháng, mỗi lần cách nhau 10 ngày. Đến ngày 24/9/2023, Nguyễn Hữu T đã trả cho Vũ Đăng H 10 ngày lãi = 500.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 445.205 đồng. Hiện tại, Nguyễn Hữu T vẫn nợ tiền gốc 10.000.000 đồng đã vay của Vũ Đăng H.
19. Mai Thị B - Sinh năm 1973; Trú tại tổ 32, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai: Ngày 01/9/2023, Mai Thị B đã vay của Vũ Đăng H số tiền 6.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 900.000 đồng/tháng và trả 03 lần trong tháng, mỗi lần cách nhau 10 ngày. Đến ngày 01/10/2023, Mai Thị B đã trả cho Vũ Đăng H 30 ngày tiền lãi = 900.000 đồng, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 801.370 đồng. Đối với khoản vay này, Mai Thị B vẫn nợ tiền gốc 6.000.000 đồng.
20. Trần Thị L - Sinh năm 1957; Trú tại tổ 07, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Ngày 01/01/2022 đến ngày 25/9/2023, Trần Thị L đã vay tiền 02 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, cụ thể:
Lần 01: Ngày 01/01/2022, Trần Thị L vay của Vũ Đăng H số tiền 6.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 900.000 đồng/tháng và trả 03 lần vào các ngày mùng 10, 20, 30 hàng tháng, tương đương lãi suất 180,1%/năm. Đến ngày 01/9/2023, Trần Thị L đã trả cho Vũ Đăng H 608 ngày tiền lãi = 18.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 16.001.096 đồng. Đối với khoản vay này, Trần Thị L vẫn nợ tiền gốc 6.000.000 đồng.
Lần 02: Ngày 25/9/2023, Trần Thị L vay của Vũ Đăng H số tiền 4.000.000 đồng, Vũ Đăng H đã cộng với khoản vay ngày 01/01/2022 mà Trần Thị L chưa trả tiền gốc nên khoản vay này là 10.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Đối với khoản vay này, Trần Thị L chưa thanh toán tiền nợ gốc 4.000.000 đồng và tiền lãi cho Vũ Đăng H nên Vũ Đăng H chưa thu lợi bất chính.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 02 lần vay tiền của Trần Thị L tổng số tiền là 16.001.096 đồng.
21. Phạm Thị H - Sinh năm 1958; Trú tại tổ 06, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai): Quá trình điều tra xác định ngày 17/02/2022 đến ngày 21/9/2023, Phạm Thị H đã vay tiền 04 lần của Vũ Đăng H với tổng số tiền 25.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, cụ thể:
Lần 01: Ngày 17/02/2022, Phạm Thị H vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày ngày 17 hàng tháng. Đối với khoản vay này, Phạm Thị H đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 5.000.000 đồng và 173 ngày tiền lãi = 4.300.000 đồng, tương đương lãi suất 181,45%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 3.826.027 đồng.
Lần 02: Ngày 10/3/2022, Phạm Thị H vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày ngày 11 hàng tháng. Đối với khoản vay này, Phạm Thị H đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 5.000.000 đồng và 153 ngày tiền lãi = 3.750.000 đồng, tương đương lãi suất 178,92%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 3.330.822 đồng.
Lần 03: Ngày 10/7/2022, Phạm Thị H vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 1500.000 đồng/tháng và trả vào ngày ngày 10 hàng tháng. Đến ngày 10/8/2022, Phạm Thị H đã trả cho Vũ Đăng H tiền gốc 10.000.000 đồng và 31 ngày tiền lãi = 1.500.000 đồng, tương đương lãi suất 176,61%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 1.330.137 đồng.
Lần 04: Ngày 21/9/2023, Phạm Thị H vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng, thoả thuận tiền lãi 750.000 đồng/tháng và trả vào ngày ngày 21 hàng tháng. Đối với khoản vay này, Phạm Thị H chưa thanh toán tiền nợ gốc 5.000.000 đồng và tiền lãi cho Vũ Đăng H nên Vũ Đăng H chưa thu lợi bất chính.
Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 04 lần vay tiền của Phạm Thị H tổng số tiền là 8.486.986 đồng.
22. Đặng Văn D - Sinh năm 1986; Trú tại tổ 14, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai: Ngày 29/9/2023, Đặng Văn D đã vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng và trả 03 lần trong tháng vào các ngày mùng 09, 19, 29. Đối với khoản vay này, Đặng Văn D đã thanh toán tiền gốc 2.000.000 đồng, còn lại 8.000.000 đồng Đặng Văn D chưa thanh toán, chưa trả tiền lãi cho Vũ Đăng H nên Vũ Đăng H chưa thu lợi bất chính.
23. Đào Thị N - Sinh năm 1956; Trú tại tổ 15, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Ngày 28/8/2023, Đào Thị N đã vay của Vũ Đăng H số tiền 6.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 900.000 đồng/tháng và trả 03 lần trong tháng vào các ngày mùng 08, 18, 28. Đến ngày 28/9/2023, Đào Thị N đã trả cho Vũ Đăng H 31 ngày tiền lãi = 900.000 đồng, tương đương lãi suất 176,61%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 798.082 đồng. Đối với khoản vay này, Đào Thị N vẫn nợ tiền gốc 6.000.000 đồng.
24. Hoàng Thị Q - Sinh năm 1979; Trú tại tổ 32, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Ngày 31/8/2023, Mai Thị B đã vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng và trả 03 lần trong tháng vào các ngày mùng 10, 20, 30. Đến ngày 30/9/2023, Hoàng Thị Q đã trả cho Vũ Đăng H 31 ngày tiền lãi = 1.500.000 đồng, tương đương lãi suất 176,61%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 1.330.137 đồng. Đến ngày 24/10/2023, Hoàng Thị Q đã thanh toán tiền vay gốc số tiền 10.000.000 đồng cho Vũ Đăng H.
25. Nguyễn Mai A - Sinh năm 1984; Trú tại tổ 16, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Ngày 28/8/2023, Nguyễn Mai A đã vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức bốc bát họ, thoả thuận mỗi ngày Nguyễn Mai A phải trả 300.000 đồng, gồm 250.000 đồng tiền gốc và 50.000 đồng tiền lãi trong vòng 40 ngày. Đối với khoản vay này, Nguyễn Mai A đã thanh toán cho Vũ Đăng H 34 ngày với tổng số tiền 10.200.000 đồng gồm 8.500.000 đồng tiền gốc và 1.700.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 1.513.699 đồng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Mai A vẫn nợ tiền gốc 1.500.000 đồng.
26. Vũ Thị H - Sinh năm 1961; Trú tại SN 165, tổ 04, dân phố 02, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai: Ngày 21/9/2023, Vũ Thị H đã vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức bốc bát họ, thoả thuận mỗi ngày Vũ Thị H phải trả 300.000 đồng, gồm 250.000 đồng tiền gốc và 50.000 đồng tiền lãi trong vòng 40 ngày. Đối với khoản vay này, Vũ Thị H đã thanh toán cho Vũ Đăng H 11 ngày với tổng số tiền 3.300.000 đồng gồm 2.750.000 đồng tiền gốc và 550.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính 489.726 đồng. Sau khi biết Vũ Đăng H bị cơ quan Công an phát hiện, Vũ Thị H đã trả Vũ Đăng H 7.000.000 đồng tiền gốc và hiện tại vẫn nợ tiền gốc Vũ Đăng H số tiền 250.000 đồng.
27. Trần Đình H - Sinh năm 1975; Trú tại tổ 04, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai: Ngày 29/9/2023, Trần Đình H đã vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng và trả 03 lần trong tháng vào các ngày mùng 09, 19, 29. Sau khi biết Vũ Đăng H bị cơ quan Công an phát hiện, Trần Đình H đã trả Vũ Đăng H 10.000.000 đồng tiền gốc và không trả lãi cho Vũ Đăng H theo nội dung thoả thuận, do vậy, đối với khoản vay này Vũ Đăng H chưa thu lợi bất chính.
28. Lê Xuân Đ - Sinh năm 1987; Trú tại tổ 17, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai): Ngày 29/11/2022, Lê Xuân Đ đã vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay cầm cố xe mô tô BKS 88F1 – 127.32, thoả thuận tiền lãi 1.000.000 đồng/tháng và trả vào ngày 29 hàng tháng. Đến ngày 29/9/2023, Lê Xuân Đ đã trả cho Vũ Đăng H 304 ngày tiền lãi = 10.000.000 đồng, tương đương lãi suất 120,07%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 8.334.247 đồng. Đối với khoản vay này, Lê Xuân Đ chưa thanh toán tiền vay gốc số tiền 10.000.000 đồng cho Vũ Đăng H.
29. Nông Xuân L - Sinh năm 1983; Trú tại tổ 11, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Ngày 20/11/2022, Nông Xuân L đã vay của Vũ Đăng H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay cầm cố xe mô tô BKS 24B2 – 436.52, thoả thuận tiền lãi 1.000.000 đồng/tháng và trả 01 lần vào ngày 22 đến 24 hàng tháng. Đến ngày 22/7/2023, Nông Xuân L đã trả cho Vũ Đăng H 242 ngày tiền lãi = 8.000.000 đồng, tương đương lãi suất 120,66%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 6.673.973 đồng. Đối với khoản vay này, Nông Xuân L chưa thanh toán tiền vay gốc số tiền 10.000.000 đồng cho Vũ Đăng H.
30. Lý Văn V - Sinh năm 1988; Trú tại thôn Cánh Địa, xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai: Ngày 14/9/2023, Lý Văn V đã vay của Vũ Đăng H số tiền 8.000.000 đồng bằng hình thức vay cầm cố xe mô tô BKS 24B1 – 375.67, thoả thuận tiền lãi 800.000 đồng/tháng. Đối với khoản vay này, Lý Văn V chưa trả tiền lãi nên Vũ Đăng H chưa thu lời bất chính. Ngày 02/02/2024, Lý Văn V đã đến Cơ quan điều tra tự nguyện giao nộp số tiền 8.000.000 đồng đã vay của Vũ Đăng H.
31. Hồ Thị D - Sinh năm 1978; Trú tại Thôn Làng Pẳng, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai: Ngày 17/8/2023, Hồ Thị D đã vay của Vũ Đăng H số tiền 18.000.000 đồng bằng hình thức vay cầm cố xe mô tô BKS 24B2 – 650.61, thoả thuận tiền lãi 1.800.000 đồng/tháng. Ngày 17/9/2023, Hồ Thị D đã trả lãi cho Vũ Đăng H 31 ngày = 1.800.000 đồng, tương đương lãi suất 117,74%/năm, số tiền thu lợi bất chính là 1.494.247 đồng. Quá trình điều tra, Hồ Thị D đã tự nguyện giao nộp số tiền nợ gốc của Vũ Đăng H là 16.505.000 đồng, hiện tại Hồ Thị D còn nợ tiền gốc đối với khoản vay này là 1.495.000 đồng.
32. Nguyễn Anh Đ - Sinh năm 1983; Trú tại tổ 08, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Ngày 09/9/2023, Nguyễn Anh Đ đã vay của Vũ Đăng H số tiền 2.000.000 đồng bằng hình thức vay cầm cố xe mô tô BKS 24K9 – 8766, thoả thuận tiền lãi 200.000 đồng/tháng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Anh Đ chưa trả tiền lãi nên Vũ Đăng H chưa thu lời bất chính. Ngày 01/02/2024, Nguyễn Anh Đ đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 2.000.000 đồng đã vay của Vũ Đăng H.
33. Mai Văn N - Sinh năm 1996; Trú tại SN 001, đường Trần Quốc Hoàn, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Ngày 28/9/2023, Mai Văn N đã vay của Vũ Đăng H số tiền 2.000.000 đồng bằng hình thức vay cầm cố xe mô tô BKS 24B1 – 406.76, thoả thuận tiền lãi 200.000 đồng/tháng. Đến ngày 29/9/2023, Mai Văn N lại vay của Vũ Đăng H số tiền 1.000.000 đồng, thoả thuận thêm tiền lãi là 100.000 đồng/tháng đối với lần vay này. Đối với khoản vay này, Mai Văn N chưa trả tiền lãi nên Vũ Đăng H chưa thu lời bất chính. Ngày 08/01/2024, Mai Văn N đã đến Cơ quan điều tra tự nguyện giao nộp số tiền 3.000.000 đồng đã vay của Vũ Đăng H.
34. Trần Văn Q - Sinh năm 1998; Trú tại SN 030, đường Trần Đăng Ninh, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai: Ngày 08/9/2023, Trần Văn Q có nhờ Mai Văn N vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng bằng hình thức cầm cố xe mô tô BKS 24B1 - 643.50, thoả thuận tiền lãi 500.000 đồng/tháng. Đối với khoản vay này, Trần Văn Q chưa trả tiền lãi nên Vũ Đăng H chưa thu lời bất chính. Quá trình điều tra, Trần Văn Q đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 5.000.000 đồng đã vay của Vũ Đăng H.
35. Lê Minh H - Sinh năm 2001; Trú tại khối 03, phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Ngày 19/9/2023, Lê Minh H vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng bằng hình thức bốc bát họ, thoả thuận mỗi ngày phải trả 150.000 đồng, gồm 125.000 đồng tiền gốc và 25.000 đồng tiền lãi trong vòng 40 ngày. Đối với khoản vay này, Lê Minh H đã thanh toán đủ cho Vũ Đăng H 12 ngày với tổng số tiền 1.800.000 đồng, gồm 1.500.000 đồng tiền gốc và 300.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 182,5%%/năm, số tiền thu lợi bất chính 267.123 đồng. Đối với khoản vay này, Lê Minh H chưa thanh toán tiền vay gốc 3.500.000 đồng cho Vũ Đăng H.
36. Nguyễn Quang S - Sinh năm 1988; Trú tại thôn Hợp Giao, xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai: Ngày 25/9/2023, Nguyễn Quang S có vay của Vũ Đăng H số tiền 5.000.000 đồng bằng hình thức vay không cầm cố tài sản, thoả thuận tiền lãi 750.000 đồng/tháng và trả một lần vào ngày 25 hàng tháng. Đối với khoản vay này, Nguyễn Quang S chưa trả tiền lãi nên Vũ Đăng H chưa thu lời bất chính và hiện Nguyễn Quang S chưa thanh toán tiền vay gốc 5.000.000 đồng cho Vũ Đăng H.
Như vậy, quá trình điều tra xác định được trong khoảng thời gian từ ngày 28/12/2020 đến ngày 29/9/2023, Vũ Đăng H đã cho 36 người vay tiền/70 lần vay với tổng số tiền 656.000.000 đồng, trong đó: Hình thức vay bốc bát họ là 06 lần; Hình thức vay cầm cố tài sản (Xe mô tô) là 12 lần; Hình thức vay không cầm cố tài sản là 52 lần. Đối với các lần vay trên, số tiền vay thấp nhất là 2.000.000 đồng, số tiền vay cao nhất là 20.000.000 đồng, lãi suất thấp nhất trong các khoản vay trên là 117,74%/năm (Vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,9 lần), lãi suất cao nhất trong các khoản vay trên là 182,5 %(Vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,1 lần). Đối với 70 lần vay này, người vay chưa thanh toán tiền lãi suất là 09 lần vay với tổng số tiền vay là 52.000.000 đồng nên Vũ Đăng H chưa thu lợi bất chính. Đối với 61 lần vay tiền mà người vay đã thanh toán tiền lãi suất với tổng số tiền vay là 604.000.000 đồng theo quy định tổng số tiền lãi được phép thu đối với 61 (Sáu mươi mốt) lần vay này là 47.865.765 đồng, tổng số tiền lãi trên thực tế mà Vũ Đăng H đã thu từ 61 lần vay này là 369.965.000 đồng. Như vậy, Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 61 lần của những người vay tiền đã trả lãi là 322.099.235 đồng, trong đó khoản vay mà Vũ Đăng H thu lợi bất chính số tiền ít nhất là 256.164 đồng, khoản vay mà Vũ Đăng H thu lợi bất chính số tiền nhiều nhất là 26.860.274 đồng.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
07 giấy mua bán xe, người bán Lý Văn V (Ngày 14/9/2023), Hồ Thị D (Ngày 17/8/2023), Lê Xuân Đ (Ngày 29/11/2022), Mai Văn N (Ngày 28/9/2023), Nông Xuân L (Ngày 20/11/2022), Mai Văn N (Ngày 08/9/2023), Nguyễn Anh Đ (Ngày 09/9/2023); 13 (Mười một) giấy vay tiền, người vay là Nguyễn Hữu T (Ngày 12/9/2023), Mai Thị B (Ngày 01/9/2023), Trần Thị Lưu (Ngày 25/9/2023), Hoàng Thị Q (Ngày 31/8/2023), Phạm Thị H (Ngày 21/9/2023), Lê Minh H (Ngày 19/9/2023), Vũ Thị H (Ngày 21/9/2023), Nguyễn Mai A (Ngày 28/8/2023), Đào Thị N (Ngày 28/8/2023 – 02 giấy), Nguyễn Quang S (Ngày 25/9/2023); Trần Đình H (Ngày 29/9/2023), Đặng Văn D (Ngày 29/9/2023).
01 đầu thu camera Ajhua màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu trắng số IMEI 352916113530951, bên trong lắp 01 sim điện thoại số 0866.005.696; 01 chứng minh nhân dân của Vũ Đăng H; 01 căn cước công dân của Vũ Đăng H; 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2 mang tên Vũ Đăng H; 03 quyển giấy mua bán xe (Mẫu in sẵn); 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh của Vũ Đăng H; 01 hợp đồng thuê nhà giữa Vũ Đăng H và Bùi Tiến Bình; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i màu đen BKS 24B1 - 992.20 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Vũ Đăng H; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM BKS màu nâu 24K1 - 3790 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Văn Bình; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES màu trắng BKS 29S6 - 138.50 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thế Nam; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE BKS 24B2 - 320.99 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Giàng A Cha; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu đen BKS 24B2 - 414.02 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hồ Thị Thu; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu vàng BKS 24Y1 -152.64 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Vũ Thị Tư; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu vàng BKS 24B2 -178.09 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Luân; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24Y1 – 043.68 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lục Văn Phong; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24B1 -983.28; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24Y1 - 120.12 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nông Thị Hoàn; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu trắng BKS 24B2 - 283.20 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Bảo Minh; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 – 297.55 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Mạnh Thưởng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24Y1 – 178.55 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đặng Văn Sửa; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24B2 - 643.69 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Thị Hoa; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ trắng BKS 24Y1 - 195.06 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Bàn Đức Hạnh; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ trắng BKS 24B2 - 907.63 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lò Văn Sơn; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 - 819.42 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Triệu Thị Khoai; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ (Xe không lắp BKS); 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 - 751.65 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lý Láo Tả; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 - 786.92 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lò A Lùng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24B2 - 895.19 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Giàng A Cấu; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24S1 - 127.96 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lý Láo Cáo; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đen BKS 24Y1 -197.46 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Nông; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu xanh đen BKS 24B2 - 803.20 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Văn Hồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu đen BKS 24B2 - 897.37 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Khắc Đạt; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu cam BKS 24B1 – 905.90 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Châu A Máo; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đen BKS 24T1 – 108.83; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng BKS 24V1 – 265.27 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Hùng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng BKS 24B2 – 905.14; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24B1 – 902.90 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Văn Cương; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen BKS 24B3 – 198.21 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Tiến; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng 24B2 - 848.50 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Trịnh Minh Đức; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen BKS 24Z1 - 109.94 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Nhật; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ BKS 24B2 – 685.90 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đặng Thị An; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu trắng BKS 24B2 - 591.77 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đặng Thị Hoa; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu trắng BKS 24B2 - 985.13 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Trương Thị Tình; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xanh BKS 24X1 - 110.42 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Tẩn Sử Quồi; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xanh BKS 24Y1 - 230.05 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lự Thị Thao; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B3 – 119.83 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Thị Hồng Liên; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24V1 – 244.58 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nông Thị Cúc; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B2 – 957.20 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Lý; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xanh BKS 24B3 - 087.20 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Hưng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B3 – 088.81 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Sùng Thị Linh; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER màu cam đen BKS 24B2 – 873.46 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Sùng A Chảo; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu cam đen BKS 24B2 – 980.76 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Chảo Láo Ú; 01 xe mô tô nhãn hiệu EXCITER màu ghi BKS 24B2 - 525.70 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Sùng Seo Mùa; 01 xe mô tô nhãn hiệu EXCITER màu trắng BKS 24Y1 - 217.10 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Nghiệp; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu xanh đen BKS 24B2 - 940.61 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lục Văn Thự; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu xám đen BKS 24B2 - 923.55 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Giàng A Sa; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i màu trắng BKS 24B2 - 688.41 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Tân Thành.
01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Đình H; 06 căn cước công dân của Lù Thị S, Đào Hoài Cường, Lương Thị Lan A, Nguyễn Hữu T, Lèng Văn Son, Lương Xuân Đ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Hạnh.
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen BKS 24B1 – 643.50 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Hiên.
01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu đen BKS 24K9 - 87.66 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Anh Đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng BKS 24B2 - 436.52 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nông Xuân L.
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24B2 – 650.61 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hà Thị Hồng.
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM màu nâu BKS 88F1 - 127.32 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đường Vinh Tuấn.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24B1 – 375.67 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Tráng A Lềnh.
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B1 – 406.76 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Trần Thị Xuyến. Số tiền 26.817.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Minh H.
01 giấy vay tiền mặt (Mẫu in sẵn); 01 giấy bán xe (Mẫu in sẵn); 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 màu trắng số IMEI 359676576790822, bên trong lắp 01 sim điện thoại số 0961.685.696; 01 túi giả da màu đen có chữ “THE BRAN DIE WELTMAR LA MAR adidas”.
Số tiền 95.197.030 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bao gồm: 32.261.446 đồng được phong toả tại tài khoản ngân hàng MBank của Vũ Đăng H; 25.430.584 đồng được phong toả tại tài khoản ngân hàng Vietcombank của Vũ Đăng H; 37.505.000 đồng do 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tự nguyện giao nộp (Lê Mai L số tiền 3.000.000 đồng; Trần Văn Q số tiền 5.000.000 đồng; Mai Văn N số tiền 3.000.000 đồng; Nguyễn Anh Đ số tiền 2.000.000 đồng; Lý Văn Cương số tiền 8.000.000 đồng; Hồ Thị D số tiền 16.505.000 đồng) hiện đã nộp vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai theo quy định.
Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Vũ Đăng H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đăng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Đăng H về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201, Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Đăng H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, xử phạt bị cáo Vũ Đăng H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 giấy vay tiền mặt (Mẫu in sẵn); 01 giấy bán xe (Mẫu in sẵn), 01 túi giả da màu đen có chữ “THE BRAN DIE WELTMAR LA MAR adidas”.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 màu trắng số IMEI 359676576790822, đã cũ, đã qua sử dụng, thân vỏ bị trầy xước, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel số 0961.685.696.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 19.505.000 đồng do 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tự nguyện giao nộp là chị Lê Mai L số tiền 3.000.000 đồng, chị Hồ Thị D số tiền 16.505.000 đồng.
Tạm giữ số tiền 18.000.000 đồng do anh Trần Văn Q giao nộp 5.000.000 đồng, anh Mai Văn N giao nộp 3.000.000 đồng; anh Nguyễn Anh Đ giao nộp 2.000.000 đồng, anh Lý Văn V giao nộp 8.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Buộc bị cáo Vũ Đăng H phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 449.750.000 đồng là tiền gốc bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Truy thu của bị cáo Vũ Đăng H số tiền 47.865.765 đồng là tiền lãi bị cáo được phép thu đối với các khoản vay bị cáo đã thu lời bất chính.
Buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền gốc chưa trả cho bị cáo Vũ Đăng H, cụ thể như sau: Anh Nguyễn Tiến T phải nộp số tiền 20.000.000 đồng, anh Lương Xuân Đ phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Lù Thị S phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Lương Thị Lan A phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Y phải nộp số tiền 13.500.000 đồng, anh Cao Văn C phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Hạnh phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, anh Nguyễn Hữu T phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Mai Thị B phải nộp số tiền 6.000.000 đồng, chị Trần Thị L phải nộp số tiền 6.000.000 đồng, chị Đào Thị N phải nộp số tiền 6.000.000 đồng, chị Nguyễn Mai A phải nộp số tiền 1.500.000 đồng, chị Vũ Thị H phải nộp số tiền 250.000 đồng, anh Lê Xuân Đ phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, anh Nông Xuân L phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Hồ Thị D phải nộp số tiền 1.495.000 đồng.
Hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đối với 02 tài khoản ngân hàng của Vũ Đăng H, sau khi hủy bỏ lệnh phong tỏa tạm giữ toàn bộ số tiền trong 02 tài khoản với tổng số tiền là 57.692.030 đồng để đảm bảo thi hành án. Cụ thể như sau: Số tài khoản 8696969999 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Lào Cai (MB Lào Cai), chủ tài khoản Vũ Đăng H, số tiền 32.261.446 đồng; Số tài khoản 0951004180617 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Lào Cai (Vietcombank Lào Cai) chủ tài khoản Vũ Đăng H, số tiền 25.430.584 đồng.
Buộc bị cáo Vũ Đăng H trả lại số tiền thu lời bất chính cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể như sau: Trả cho chị Lương Thị Lan A số tiền 6.661.644 đồng, trả cho anh Lê Vĩnh L số tiền 35.095.206 đồng, trả cho anh Nguyễn Tiến Mạnh số tiền 15.607.533 đồng, trả cho chị Trần Thị L số tiền 16.001.096 đồng, trả cho chị Hoàng Thị Q số tiền 1.330.137 đồng, trả cho anh Lê Xuân Đ số tiền 8.334.247 đồng, trả cho chị Hồ Thị D số tiền 1.494.247 đồng.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đăng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Vũ Đăng H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết xã hội và pháp luật, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài nên trong khoảng thời gian từ ngày 28/12/2020 đến ngày 29/9/2023, Vũ Đăng H đã một mình thực hiện hành vi cho 36 cá nhân vay tiền với 70 lần vay với tổng số tiền là 656.000.000 đồng. Đối với các lần vay này, lãi suất thấp nhất trong các khoản vay là 117,74%/năm (Vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong bộ luật dân sự là 5,9 lần), lãi suất cao nhất trong các khoản vay trên là 182,5%/năm (Vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong bộ luật dân sự là 9,1 lần). Trong 70 lần vay này thì có 61 lần vay tiền với tổng số tiền vay là 604.000.000 đồng mà người vay đã thanh toán tiền lãi suất và Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ 61 lần vay này là 322.099.235 đồng, do vậy Vũ Đăng H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền đã thu lợi bất chính từ 61 lần vay tiền này. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Vũ Đăng H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các hoạt động tín dụng, kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lào Cai. Vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo Vũ Đăng H có nhân thân tốt, bị cáo không có tiền án tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội là ông Vũ Văn Viên được tặng thưởng huy chương chiến thắng hạng hai và bà nội là bà Lê Thị Chúc được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Vì vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Vũ Đăng H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Do đó xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy việc cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại điều 65 của Bộ luật Hình sự và giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Vũ Đăng H số tiền 30.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm Trần Thị D, Trần Quốc Q, Lù Thị S, Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Y, Lương Xuân Đ, Lê Mai L, Hoàng Anh T, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị N, Hoàng Thị Tươi, Cao Văn C, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Hữu T, Mai Thị B, Phạm Thị H, Đào Thị N, Nguyễn Mai A, Vũ Thị H, Trần Đình H, Nông Xuân L, Trần Văn Q, chị Đinh Thị N, anh Lê Minh H không yêu cầu bị cáo Vũ Đăng H phải trả số tiền thu lợi bất chính từ các khoản vay của các cá nhân này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Minh H đã trả cho Vũ Đăng H số tiền gốc đã vay còn lại là 3.500.000 đồng và anh Nguyễn Quang S đã trả cho Vũ Đăng H số tiền gốc đã vay là 5.000.000 đồng.
Đối với 07 giấy mua bán xe, người bán Lý Văn V (Ngày 14/9/2023), Hồ Thị D (Ngày 17/8/2023), Lê Xuân Đ (Ngày 29/11/2022), Mai Văn N (Ngày 28/9/2023), Nông Xuân L (Ngày 20/11/2022), Mai Văn N (Ngày 08/9/2023), Nguyễn Anh Đ (Ngày 09/9/2023); 13 (Mười một) giấy vay tiền, người vay là Nguyễn Hữu T (Ngày 12/9/2023), Mai Thị B (Ngày 01/9/2023), Trần Thị Lưu (Ngày 25/9/2023), Hoàng Thị Q (Ngày 31/8/2023), Phạm Thị H (Ngày 21/9/2023), Lê Minh H (Ngày 19/9/2023), Vũ Thị H (Ngày 21/9/2023), Nguyễn Mai A (Ngày 28/8/2023), Đào Thị N (Ngày 28/8/2023 – 02 giấy), Nguyễn Quang S (Ngày 25/9/2023); Trần Đình H (Ngày 29/9/2023), Đặng Văn D (Ngày 29/9/2023) cần lưu theo hồ sơ vụ án.
Đối với 01 đầu thu camera Ajhua màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu trắng số IMEI 352916113530951, bên trong lắp 01 sim điện thoại số 0866.005.696; 01 chứng minh nhân dân của Vũ Đăng H; 01 căn cước công dân của Vũ Đăng H; 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2 mang tên Vũ Đăng H; 03 quyển giấy mua bán xe (Mẫu in sẵn); 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh của Vũ Đăng H; 01 hợp đồng thuê nhà giữa Vũ Đăng H và Bùi Tiến Bình; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i màu đen BKS 24B1 - 992.20 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Vũ Đăng H; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM BKS màu nâu 24K1 - 3790 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Văn Bình; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES màu trắng BKS 29S6 - 138.50 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thế Nam; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE BKS 24B2 - 320.99 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Giàng A Cha; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu đen BKS 24B2 - 414.02 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hồ Thị Thu; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu vàng BKS 24Y1 -152.64 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Vũ Thị Tư; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu vàng BKS 24B2 -178.09 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Luân; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24Y1 – 043.68 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lục Văn Phong; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24B1 -983.28; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24Y1 - 120.12 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nông Thị Hoàn; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu trắng BKS 24B2 - 283.20 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Bảo Minh; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 – 297.55 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Mạnh Thưởng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24Y1 – 178.55 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đặng Văn Sửa; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24B2 - 643.69 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Thị Hoa; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ trắng BKS 24Y1 - 195.06 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Bàn Đức Hạnh; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ trắng BKS 24B2 - 907.63 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lò Văn Sơn; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 - 819.42 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Triệu Thị Khoai; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ (Xe không lắp BKS); 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 - 751.65 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lý Láo Tả; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ BKS 24B2 - 786.92 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lò A Lùng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24B2 - 895.19 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Giàng A Cấu; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24S1 - 127.96 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lý Láo Cáo; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đen BKS 24Y1 -197.46 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Nông; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu xanh đen BKS 24B2 - 803.20 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Văn Hồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu đen BKS 24B2 - 897.37 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Khắc Đạt; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu cam BKS 24B1 – 905.90 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Châu A Máo; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đen BKS 24T1 – 108.83; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng BKS 24V1 – 265.27 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Hùng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng BKS 24B2 – 905.14; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen BKS 24B1 – 902.90 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Văn Cương; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen BKS 24B3 – 198.21 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Tiến; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng 24B2 - 848.50 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Trịnh Minh Đức; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen BKS 24Z1 - 109.94 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Nhật; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ BKS 24B2 – 685.90 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đặng Thị An; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu trắng BKS 24B2 - 591.77 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đặng Thị Hoa; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu trắng BKS 24B2 - 985.13 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Trương Thị Tình; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xanh BKS 24X1 - 110.42 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Tẩn Sử Quồi; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xanh BKS 24Y1 - 230.05 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lự Thị Thao; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B3 – 119.83 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Thị Hồng Liên; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24V1 – 244.58 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nông Thị Cúc; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B2 – 957.20 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Lý; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu xanh BKS 24B3 - 087.20 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Hưng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B3 – 088.81 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Sùng Thị Linh; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER màu cam đen BKS 24B2 – 873.46 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Sùng A Chảo; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu cam đen BKS 24B2 – 980.76 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Chảo Láo Ú; 01 xe mô tô nhãn hiệu EXCITER màu ghi BKS 24B2 - 525.70 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Sùng Seo Mùa; 01 xe mô tô nhãn hiệu EXCITER màu trắng BKS 24Y1 - 217.10 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn Nghiệp; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu xanh đen BKS 24B2 - 940.61 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lục Văn Thự; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X màu xám đen BKS 24B2 - 923.55 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Giàng A Sa; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i màu trắng BKS 24B2 - 688.41 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Tân Thành: Quá trình điều tra xác định toàn bộ tài sản, giấy tờ trên thuộc quyền sở hữu của bị cáo Vũ Đăng H, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trả lại toàn bộ tài sản, giấy tờ trên cho bị can Vũ Đăng H là có căn cứ.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Đình H; 06 căn cước công dân của Lù Thị S, Đào Hoài Cường, Lương Thị Lan A, Nguyễn Hữu T, Lèng Văn Son, Lương Xuân Đ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Hạnh. Quá trình điều tra xác định toàn bộ giấy tờ trên thuộc quyền sở hữu của các cá nhân trên, do vậy, ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trả lại toàn bộ giấy tờ trên cho Trần Đình H, Lù Thị S, Đào Hoài Cường, Lương Thị Lan A, Nguyễn Hữu T, Lèng Văn Son, Lương Xuân Đ, Nguyễn Thị Hạnh là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen BKS 24B1 - 643.50 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Hiên. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô và giấy tờ trên thuộc quyền sở hữu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn Q, do vậy, ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trả lại tài sản, giấy tờ trên cho bị anh Trần Văn Q là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu đen BKS 24K9 - 87.66 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Anh Đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng BKS 24B2 - 436.52 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nông Xuân L: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô và giấy tờ trên thuộc quyền sở hữu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Anh Đ, Nông Xuân L, do vậy, ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trả lại tài sản, giấy tờ trên cho bị anh Nguyễn Anh Đ, anh Nông Xuân L là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24B2 - 650.61 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hà Thị Hồng: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô và giấy tờ trên thuộc quyền sở hữu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Thị D, do vậy, ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trả lại tài sản, giấy tờ trên cho bị chị Hồ Thị D là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM màu nâu BKS 88F1 - 127.32 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đường Vinh Tuấn. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô và giấy tờ trên thuộc quyền sở hữu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Xuân Đ, do vậy, ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trả lại tài sản, giấy tờ trên cho anh Lê Xuân Đ là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh BKS 24B1 - 375.67 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Tráng A Lềnh. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô và giấy tờ trên thuộc quyền sở hữu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý Văn V, do vậy, ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trả lại tài sản, giấy tờ trên cho anh Lý Văn V là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen BKS 24B1 - 406.76 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Trần Thị Xuyến. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô và giấy tờ trên thuộc quyền sở hữu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mai Văn N, do vậy, ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trả lại tài sản, giấy tờ trên cho anh Mai Văn N là có căn cứ.
Đối với số tiền 26.817.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Quá trình điều tra xác định số tiền trên thuộc quyền sở hữu của chị Vũ Mai Xuân - Sinh năm 1999; Trú tại tổ 32, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai; Là vợ của bị cáo Vũ Đăng H), do vậy, ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trả lại số tiền trên cho chị Vũ Mai Xuân là có căn cứ.
Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Minh H. Quá trình điều tra xác định giấy tờ trên thuộc quyền sở hữu của anh Lê Minh H, tuy nhiên qua xác minh nhận thấy Lê Minh H không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra đã tách vật chứng trên và sẽ xử lý khi có đủ điều kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 giấy vay tiền mặt (Mẫu in sẵn); 01 giấy bán xe (Mẫu in sẵn), 01 túi giả da màu đen có chữ “THE BRAN DIE WELTMAR LA MAR adidas” là giấy tờ, đồ vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 màu trắng số IMEI 359676576790822, đã cũ, đã qua sử dụng, thân vỏ bị trầy xước, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel số 0961.685.696 Vũ Đăng H dùng để giao dịch cho lãi nặng thu lời bất chính là nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định.
Đối với số tiền 37.505.000 đồng do 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tự nguyện giao nộp để trả cho Vũ Đăng H gồm: Chị Lê Mai L giao nộp số tiền 3.000.000 đồng, anh Lý Văn V giao nộp số tiền 8.000.000 đồng; chị Hồ Thị D giao nộp số tiền 16.505.000 đồng; anh Trần Văn Q giao nộp số tiền 5.000.000 đồng, anh Mai Văn N giao nộp số tiền 3.000.000 đồng; anh Nguyễn Anh Đ giao nộp số tiền 2.000.000 đồng hiện đã nộp vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai là tiền những người này vay của Vũ Đăng H. Trong số tiền này, có số tiền của chị Lê Mai L, chị Hồ Thị D giao nộp tổng cộng 19.505.000 đồng là tiền Vũ Đăng H cho vay đã thu lời bất chính, là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền anh Trần Văn Q, Mai Văn N, Nguyễn Anh Đ, anh Lý Văn V giao nộp tổng cộng 18.000.000 đồng là tiền bị cáo Vũ Đăng H cho những người này vay nhưng chưa thu lời bất chính, vì vậy cần tạm giữ số tiền 18.000.000 đồng này để đảm bảo thi hành án.
Đối với số tiền 604.000.000 đồng là tiền gốc Vũ Đăng H đã sử dụng để cho vay thu lời bất chính, trong đó những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa trả tiền gốc cho Vũ Đăng H tổng cộng là 134.745.000 đồng (Anh Nguyễn Tiến T còn nợ Vũ Đăng H 20.000.000 đồng, anh Lương Xuân Đ còn nợ 10.000.000 đồng, chị Lù Thị S còn nợ 10.000.000 đồng, chị Lương Thị Lan A còn nợ 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Y còn nợ 13.500.000 đồng, anh Cao Văn C còn nợ 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Hạnh còn nợ 10.000.000 đồng, anh Nguyễn Hữu T còn nợ 10.000.000 đồng, chị Mai Thị B còn nợ 6.000.000 đồng, chị Trần Thị L còn nợ 6.000.000 đồng, chị Đào Thị N còn nợ 6.000.000 đồng, chị Nguyễn Mai A còn nợ 1.500.000 đồng, chị Vũ Thị H còn nợ 250.000 đồng, anh Lê Xuân Đ còn nợ 10.000.000 đồng, anh Nông Xuân L còn nợ 10.000.000 đồng, chị Hồ Thị D còn nợ 1.495.000 đồng) cùng với số tiền người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Lê Mai L, chị Hồ Thị D) đã nộp cho cơ quan điều tra số tiền là 19.505.000 đồng. Vì vậy cần buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp vào ngân sách nhà nước số tiền gốc chưa trả cho Vũ Đăng H tổng cộng là 134.745.000 đồng, tịch thu số tiền 19.505.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước. Sau khi trừ đi số tiền người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa trả cho bị cáo và tiền người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nộp cho cơ quan điều tra thì bị cáo Vũ Đăng H còn phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền là 449.750.000 đồng.
Đối với số tiền 47.865.765 đồng là tiền lãi bị cáo được phép thu đối với 61 lần bị cáo cho vay thu lời bất chính là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 57.692.030 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bao gồm: 32.261.446 đồng được phong toả tại tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Lào Cai (MB Lào Cai) của Vũ Đăng H số tài khoản 8696969999; 25.430.584 đồng được phong toả tại tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Lào Cai (Vietcombank Lào Cai) của Vũ Đăng H số tài khoản 0951004180617 là tiền riêng của bị cáo sử dụng để kinh doanh, do bị cáo còn phải thi hành án vì vậy cần hủy bỏ lệnh phong tỏa của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đối với 02 tài khoản ngân hàng này và tạm giữ toàn bộ số tiền trong hai tài khoản với tổng số tiền là 57.692.030 đồng để đảm bảo thi hành án.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án yêu cầu Vũ Đăng H phải trả lại số tiền Vũ Đăng H đã thu lợi bất chính từ các khoản vay gồm chị Lương Thị Lan A số tiền 6.661.644 đồng, anh Lê Vĩnh L số tiền 35.095.206 đồng, anh Nguyễn Tiến Mạnh số tiền 15.607.533 đồng, chị Trần Thị L số tiền 16.001.096 đồng, chị Hoàng Thị Q số tiền 1.330.137 đồng, anh Lê Xuân Đ số tiền 8.334.247 đồng, chị Hồ Thị D số tiền 1.494.247 đồng. Do đó buộc bị cáo Vũ Đăng H phải trả lại cho chị Lương Thị Lan A, anh Lê Vĩnh L, anh Nguyễn Tiến Mạnh, chị Trần Thị L, chị Hoàng Thị Q, anh Lê Xuân Đ, chị Hồ Thị D số tiền trên là đúng quy định.
Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án: Đối với chị Vũ Mai Xuân, là vợ của Vũ Đăng H, anh Bùi Tiến Bình - Sinh năm 1967; Trú tại tổ 05, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai là chủ sở căn nhà tại số 421, đường Nhạc Sơn, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai và anh Vi Hoàng Anh là người được Vũ Đăng H thuê để giúp việc mua bán, ký gửi xe máy cũ, mới tại cửa hàng: Quá trình điều tra xác định các cá nhân trên không biết, không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Vũ Đăng H, do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai không đề cập xử lý đối với các cá nhân trên là có căn cứ.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 201; Điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Đăng H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Xử phạt bị cáo Vũ Đăng H 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Đăng H số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 giấy vay tiền mặt (Mẫu in sẵn); 01 giấy bán xe (Mẫu in sẵn), 01 túi giả da màu đen có chữ “THE BRAN DIE WELTMAR LA MAR adidas”.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 màu trắng số IMEI 359676576790822, đã cũ, đã qua sử dụng, thân vỏ bị trầy xước, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel số 0961.685.696.
(Vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa Công an thành phố Lào Cai và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai).
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 19.505.000 đồng do 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tự nguyện giao nộp là chị Lê Mai L số tiền 3.000.000 đồng, chị Hồ Thị D số tiền 16.505.000 đồng.
Tạm giữ số tiền 18.000.000 đồng do anh Trần Văn Q giao nộp 5.000.000 đồng, anh Mai Văn N giao nộp 3.000.000 đồng; anh Nguyễn Anh Đ giao nộp 2.000.000 đồng, anh Lý Văn V giao nộp 8.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
(Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 05 tháng 02 năm 2024 vào tài khoản số 3949.0.9049863 của Công an thành phố Lào Cai).
Buộc bị cáo Vũ Đăng H phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 449.750.000 đồng là tiền gốc bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Truy thu của bị cáo Vũ Đăng H số tiền 47.865.765 đồng là tiền lãi bị cáo được phép thu đối với các khoản vay bị cáo đã thu lời bất chính.
Buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền gốc chưa trả cho bị cáo Vũ Đăng H, cụ thể như sau: Anh Nguyễn Tiến T phải nộp số tiền 20.000.000 đồng, anh Lương Xuân Đ phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Lù Thị S phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Lương Thị Lan A phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Y phải nộp số tiền 13.500.000 đồng, anh Cao Văn C phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Hạnh phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, anh Nguyễn Hữu T phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Mai Thị B phải nộp số tiền 6.000.000 đồng, chị Trần Thị L phải nộp số tiền 6.000.000 đồng, chị Đào Thị N phải nộp số tiền 6.000.000 đồng, chị Nguyễn Mai A phải nộp số tiền 1.500.000 đồng, chị Vũ Thị H phải nộp số tiền 250.000 đồng, anh Lê Xuân Đ phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, anh Nông Xuân L phải nộp số tiền 10.000.000 đồng, chị Hồ Thị D phải nộp số tiền 1.495.000 đồng.
Hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đối với 02 tài khoản ngân hàng của Vũ Đăng H, sau khi hủy bỏ lệnh phong tỏa tạm giữ toàn bộ số tiền trong 02 tài khoản với tổng số tiền là 57.692.030 đồng để đảm bảo thi hành án. Cụ thể như sau: Số tài khoản 8696969999 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Lào Cai (MB Lào Cai), chủ tài khoản Vũ Đăng H, số tiền 32.261.446 đồng; Số tài khoản 0951004180617 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Lào Cai (Vietcombank Lào Cai) chủ tài khoản Vũ Đăng H, số tiền 25.430.584 đồng.
Buộc bị cáo Vũ Đăng H trả lại số tiền thu lời bất chính cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể như sau: Trả cho chị Lương Thị Lan A số tiền 6.661.644 đồng, trả cho anh Lê Vĩnh L số tiền 35.095.206 đồng, trả cho anh Nguyễn Tiến Mạnh số tiền 15.607.533 đồng, trả cho chị Trần Thị L số tiền 16.001.096 đồng, trả cho chị Hoàng Thị Q số tiền 1.330.137 đồng, trả cho anh Lê Xuân Đ số tiền 8.334.247 đồng, trả cho chị Hồ Thị D số tiền 1.494.247 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Sân sự năm 2015.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Đăng H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; VKSND tỉnh; - Phòng PV 06 - Công an tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSNDTPLC; CATPLC; - Chi cục THADSTPLC; - Cơ quan THAHSCATP; - Bị cáo; NLQ; - UBND phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thu Trang |