- Tranh chấp gì? án hình sự — "L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Bá L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2024/HS-ST Ngày: 12-04-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Hoan và bà Vũ Thị Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với:
Bị cáo LÊ BÁ L sinh ngày 29/9/1984, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện X, tỉnh Y; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: lớp 09/12; con ông Lê Bá L1 sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L2 sinh năm 1959; vợ là chị Hoàng Thị V sinh năm 1994; có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2018;
- Tiền án, tiền sự: không;
- Nhân thân: Bản án số 85/2017/HSST ngày 23/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Y xử phạt Lê Bá L 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 09/11/2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 25/8/2018 bị cáo thi hành xong án phí;
- Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 25/12/2023 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện X, tỉnh Y; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, Lê Bá L đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến khu vực ngã 3 nghĩa trang thuộc thôn B, xã C, huyện X, tỉnh Y tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, L đi bộ tìm và mua được 02 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Sau khi mua được ma túy, L cầm ma túy ở bàn tay phải, đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi đang đi bộ trên đường thuộc thôn B, xã C thì bị tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện có biểu hiện nghi vấn, yêu cầu L dừng lại kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Hoàng Mai N, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1974 đều trú tại thôn B, xã C, huyện X, tỉnh Y, L đã tự giác giao nộp 02 gói nhỏ đều được gói bằng giấy trằng, mở ra bên trong có chất bột màu trắng dạng cục, L khai đó là ma túy loại Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã kiểm tra người L không phát hiện thu giữ gì; sau đó, dẫn giải L và mời những người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã C lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X khám xét khẩn cấp nơi ở của L nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Tại Kết luận giám định số 1839/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Y kết luận: "Mẫu gửi giám định là ma túy; loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacelmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,2300gam (Không phẩy hai nghìn ba trăm gam). Heroine STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Cáo trạng số 41/CT-VKSTT ngày 29/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện X đã truy tố bị cáo Lê Bá L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa; bị cáo Lê Bá L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện X đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X tỉnh Y giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Lê Bá L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Bá L từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 19/12/2023;
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;
+ Tịch thu tiêu huỷ 0,2025 gam ma túy loại Heroine sau khi giám định còn lại và toàn bộ bao gói đựng trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1839/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Y;
+ Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai của bị cáo tại phiên tòa không có sự thay đổi so với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; bị cáo đã thừa nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý là đúng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18 giờ 00 phút; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 18 giờ 45 phút cùng ngày 19/12/2023 do Công an xã C lập (Bút lục số 42, 43 và 45); Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là ông Hoàng Mai N sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị N1 sinh năm 1974, trú tại: thôn B, xã C, huyện X, tỉnh Y (Bút lục từ số 81 đến 84).
[3] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn để kết luận: vào hồi 17 giờ 45 phút ngày 19/12/2023, tại đoạn đường khu vực ngã 3 nghĩa trang thuộc thôn B, xã C, huyện X, tỉnh Y, Lê Bá L có hành vi tàng trữ trái phép 0,2300 gam ma túy, loại Heroine ở bàn tay phải với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo biết rõ ma túy là loại chất gây nghiện do nhà nước độc quyền quản lý; tác hại của ma túy là vô cùng nghiêm trọng; nó không chỉ gây ra những tổn hại về sức khỏe, kinh tế cho chính người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, xã hội và kinh tế của đất nước; là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự; Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp, tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm về ma tuý; đã quy định những chế tài đặc biệt nghiêm khắc đối với các tội phạm về ma tuý; nhưng chỉ vì muốn thoả mãn thói hư, tật xấu của mình, bị cáo vẫn cố tình thực hiện, thể hiện bị cáo rất coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội.
[4] Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam."
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[5] Bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thuỵ đã truy tố.
[6] Bị cáo đã tưng bị kết án về tội trộm cắp tài sản, đã được xoá án tích nhưng vẫn bị coi là người có nhân thân xấu. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung cần phải xử phạt bị cáo Lê Bá L bằng hình phạt tù với mức án nghiêm khắc.
[7] Về xử lý vật chứng: khối lượng ma túy Heroine mà cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Lê Bá L 0,2300 gam, sau khi giám định còn lại là 0,2025 gam thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Bị cáo Lê Bá L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Lê Bá L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Bá L 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2023.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu huỷ 0,2025 gam ma túy loại Heroine và toàn bộ bao gói thu giữ của Lê Bá L trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1839/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Y (Vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Y theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 29/3/2024).
4. Về án phí: áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo lê Bá L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo Lê Bá L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/4/2024./.
| Nơi nhận: - Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự, Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện Thái Thụy; - Bị cáo; - Lưu HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Anh |