- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Ngọc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2024/HS- ST Ngày: 29/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Phúc Vượng - Ông Lê Sỹ Chiến.
- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên
Ngày 29/3/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST - HS, ngày 18/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST - HS ngày 19/3/2024 đối với bị cáo:
Ngô Văn N, sinh năm: 1983; Nơi sinh: Huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản Sơn Hà, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ ông Ngô Văn Úc (đã chết); mẹ đẻ bà Dương Thị Khuyên, sinh năm: 1938; bị cáo sống như vợ chồng với chị Phạm Thị Sen, sinh năm: 1986 và có 02 con, con lớn, sinh năm: 2004, con nhỏ, sinh năm: 2006. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Sen, sinh năm: 1986; địa chỉ: Bản Sơn Hà, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 18/12/2023 Ngô Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 25U1 - 051.31 đi từ nhà tại bản Sơn Hà, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên xuống bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroin để sử dụng. Khi đến bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, N gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân, lai lịch. Qua trao đổi N hỏi và mua được của người phụ nữ này 01 gói Heroin được gói bằng 01 mảnh nilon màu hồng với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được Heroin, N nhặt được ở dưới đất 01 mảnh nilon màu hồng khác gói thêm vào bên ngoài gói Heroin vừa mua. Sau đó N cất gói Heroin vào trong túi áo khoác đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến 12 giờ 45 phút cùng ngày khi N về đến bản Mít Thái, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên thì bị Công an xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Ngô Văn N, thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã tiến hành mở niêm phong và cân tịnh 01 mẫu chất bột, màu trắng, vón cục thu giữ của Ngô Văn N có khối lượng 0,16 gam, đã trích 0,11 gam chất bột, màu trắng, vón cục gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 38/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine”.
Vật chứng còn lại của vụ án là: 0,05 gam Heroin; 02 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong; 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25U1-051.31, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSX, màu sơn vàng đen hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên.
Bản cáo trạng số: 18/CT - VKS - TU ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố bị cáo Ngô Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,05 gam Heroin; 02 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong; Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25U1-051.31, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSX, màu sơn vàng đen. Về án phí hình sự sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm cũng không có ý kiến gì và nhất trí với bản cáo trạng, không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Sen ý kiến: Đề nghị HĐXX xem xét trả lại xe máy mà bị cáo dùng làm phương tiện mua ma túy, chị cho rằng chiếc xe máy là tài sản chung giữa chị với bị cáo, tuy chưa đăng ký kết hôn nhưng là tài sản chung của vợ chồng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị HĐXX xem xét tạo điều kiện trả lại cho chị.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 18/12/2023, tại khu vực bản Mít Thái, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Ngô Văn N bị Công an xã Pắc Ta lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ 01 gói ma túy. Kết quả giám định 01 gói chất bột màu trắng kết luận là ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,16 gam. Như vậy Ngô Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,16 gam Heroin.
Xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy nên mục đích mua ma túy về sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác, khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,16 gam Heroin. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xét về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên cũng cần phải có một mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của bị cáo còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự
[7] Về vật chứng: Đối với 0,11 gam Heroin đã gửi giám định hết nên HĐXX không xem xét giải quyết; số Heroin còn lại là 0,05 gam; 02 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong là những vật nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25U1-051.31, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSX, màu sơn vàng đen, chị Phạm Thị Sen khai là tài sản chung giữa chị với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy chị Sen với bị cáo sống với nhau như vợ chồng và hình thành nên tài sản chung, tuy nhiên chị xét thấy có căn cứ thì đề nghị giải quyết trong vụ việc dân sự. Do bị cáo dùng chiếc xe máy này làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[ 9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch ở đâu, nên không căn cứ để điều tra xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 - Bộ luật tố tụng Hình sự.
Căn cứ Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 18/12/2023.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,05 gam Heroin; 02 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25U1-051.31, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSX, màu sơn vàng đen.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên với Chi cục THADS huyện Tân Uyên).
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Phương
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh - VKS tỉnh, huyện - THA dân sự huyện - Cơ quan THAHS,CQĐT - Bị cáo - Người có QLNVLQ - Sở Tư pháp - Công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. - Lưu HS - VA . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương |