vanban.org

Bản án 48/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A Ch 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 25/02/2024. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A Ch - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày: 26-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Công Nghiệp

2. Ông Khoàng Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sùng A Ch; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1962 tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú: Bản M4, xã T, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân 01106200xxxx; Con ông Sùng A X (đã chết) và bà Giàng Thị B (đã chết); Bị cáo có vợ là Thào Thị S (đã chết) và 07 người con; Tiền án: Có 01 tiền án (ngày 26/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 22/2021/HS-ST); Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/4/2016 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng, tại Quyết định số 06/2016/QĐ-TA. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/02/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 01/3/2024 cho tới nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Giàng Thị Nhung, sinh năm 1987 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 00 phút ngày 25/02/2024, tổ công tác Đồn Biên phòng H phối hợp với Công an huyện N đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản K, xã H, huyện N, tỉnh Điện Biên, phát hiện Sùng A Ch đang đi bộ từ hướng biên giới về bản K, xã H, huyện N, tỉnh Điện Biên có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau khi nghe tổ công tác giải thích, Sùng A Ch đã tự giác lấy trong túi áo đang mặc ra 01 gói nilon màu hồng, miệng gói được hơ lửa hàn kín, mở bên trong có các cục chất bột dạng nén màu trắng đục, giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, áp giải Sùng A Ch cùng vật chứng về Đồn Biên phòng H, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Tại cơ quan điều tra Sùng A Ch khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/02/2024, Sùng A Ch đi bộ từ nhà ở bản M4, xã T, huyện N tới khu vực biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản K, xã H để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đó, Ch gặp 01 người phụ nữ khoảng 60 tuổi, qua trao đổi Ch đã mua 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng, miệng gói được hơ lửa dán kín với giá 100.000 đồng của bà ta. Sau khi mua được gói Heroine, Ch cất giấu trong túi áo đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi Ch đi tới khu vực bản K, xã H, huyện N, tỉnh Điện Biên thì gặp tổ công tác Đồn Biên phòng H và Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 25/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Chất bột dạng nén màu trắng đục thu giữ của Sùng A Ch có khối lượng 0,97 (không phẩy chín mươi bẩy) gam, gửi toàn bộ làm mẫu giám định.

Tại Kết luận giám định số: 451/KL-KTHS, ngày 29/02/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

“- Vật chứng thu giữ của Sùng A Ch gồm 0,97 gam chất bột màu trắng đục là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine).

- Hoàn lại đối tượng giám định và toàn bộ bao bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo”.

Tại bản Cáo trạng số: 26/CT-VKSNP ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Sùng A Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Sùng A Ch đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Sùng A Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Sùng A Ch từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là Heroine sau khi hoàn lại mẫu giám định và bao bì niêm phong cũ. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Sùng A Ch nhất trí với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và hoàn cảnh gia đình bị cáo, xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Sùng A Ch nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Sùng A Ch thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 12 giờ 00 phút, ngày 25/02/2024, bị cáo Sùng A Ch đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,97 (không phẩy chín mươi bẩy) gam Heroine để sử dụng, được Ch cất giấu trong túi áo, khi đang đi bộ tại khu vực bản K, xã H, huyện N, tỉnh Điện Biên. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra (BL 67 – 76), phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ (BL 01 – 02), kết luận giám định (BL 39) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo không phạm tội.

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Sùng A Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn huyện N, vì ma túy không chỉ gây hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân. Để đảm bảo thi hành án, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo theo khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Sùng A Ch xuất thân trong gia đình nông dân nhưng không chịu lao động, không làm chủ được bản thân nên đã nghiện ma túy. Ngoài lần xét xử ngày hôm nay, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện N xét xử vào năm 2021 và bị Tòa án nhân dân huyện N, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng tại Quyết định số 06/2016/QĐ-TA, ngày 25/4/2016, bị cáo chấp hành xong kể từ ngày 13/02/2018 trở về địa phương sinh sống, được coi là Cha bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt giữ bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, ngày 26/4/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại bản án số 32/2021/HS-ST. Đến ngày 22/3/2022 bị cáo được Trại giam Yên Hạ cấp Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, ngày 25/02/2024 bị cáo lại tiếp tục phạm tội trong vụ án này. Như vậy, bị cáo Sùng A Ch thực hiện hành vi phạm tội mới do lỗi cố ý khi chưa được xóa án tích, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự thuộc trường hợp tái phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nương, thu nhập không ổn định, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bản thân bị cáo không có tài sản riêng có giá trị (theo biên bản xác minh 04/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N) nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là 0,9 (không phẩy chín) gam Heroine hoàn lại sau khi giám định và toàn bộ bao bì niêm phong cũ (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 29/02/2024 giữa Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và Đồn Biên phòng H), Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng cũng như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo vì hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và hoàn cảnh, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức đề nghị thấp nhất của vị đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị của người bào chữa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên và người bào chữa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án Sùng A Ch khai đã mua Heroine của 01 người phụ nữ không quen biết vào ngày 25/02/2024 tại khu vực biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản K, xã H, huyện N, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ của người phụ nữ này ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã T, huyện N, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A Ch 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 25/02/2024.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,9 (không phẩy chín) gam Heroine hoàn lại sau khi đã giám định và bao bì niêm phong cũ (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định giữa Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N vào ngày 29/02/2024).

(Vật chứng được đựng trong phong bì niêm phong như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A Ch.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Sùng A Ch được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 26/6/2024./.

Cỡ chữ