- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2024/HS-ST Ngày 26-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Sơn và ông Chu Minh Đức.
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà:
+ Ông Phạm Mạnh Hùng - Kiểm sát viên
+ Ông Nguyễn Tuấn Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1976 tại xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: thôn 2, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Cù Thị Kh; có vợ là Đỗ Thị Ph và 02 con; tiền án, tiền sự: không; đặc điểm nhân thân: Ngày 08/10/2021, Công an xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị bắt tạm giữ từ ngày 08/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/4/2024, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ 99 thuộc tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B. Tổ công tác Công an huyện Bình Lục phối hợp với Công an thị trấn B tuần tra phát hiện Nguyễn Văn Đ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Lúc này, Đ tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 (một) đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục đang cầm trong lòng bàn tay phải và khai nhận đó là Heroine, Đ cất giữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an đã thu giữ vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang: Thu giữ 01 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, do Nguyễn Văn Đ tự giác giao nộp, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 08/4/2024, Đ đi bộ từ nhà ở thôn 2, xã A, huyện B ra ngoài đường liên xã rồi đi nhờ xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) của một người nam giới (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đến khu vực cầu S thuộc địa phận thị trấn B, huyện B để tìm mua Heroine về sử dụng. Đến nơi, Đ xuống xe, đi bộ từ cầu S vào đường bê tông cạnh bờ sông, về hướng xã A, huyện B khoảng 200m thì gặp một người thanh niên đứng một mình ở lề đường, có dáng giống người nghiện ma túy nên Đ lại gần hỏi: “Có Heroine không để cho em một quả 200.000 đồng”, người thanh niên trả lời: “Đưa tiền đây”, Đ liền lấy trong người ra tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng đưa cho người nam thanh niên rồi nhận lại từ người này 01 (một) đoạn ống hút màu trắng được hàn kín 02 đầu. Biết đó là gói Heroine nên Đ không mở ra kiểm tra mà cầm trong lòng bàn tay phải, theo đường cũ đi bộ về. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ đang đi bộ tại khu vực trước cửa Nhà nghỉ 99 thuộc địa phận tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B thì gặp lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Đ tại thôn 2, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài sản, tài liệu gì có liên quan.
Tại Bản kết luận giám định số 270/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,167 g (Không phẩy một trăm sáu mươi bảy gam) loại Heroine (Heroin).
Cáo trạng số 41/CT-VKS-MT ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy vật chứng hoàn trả sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nói sau cùng của bị cáo, nhận thức hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/4/2024, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ 99 thuộc tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Văn Đ đang cất giữ trái phép 0,167 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gia tăng các tệ nạn xã hội, làm băng hoại đạo đức, suy kiệt giống nòi. Trước tình hình tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp nên Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy cũng như quyết tâm loại trừ tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo đủ nhận thức để hiểu được các tác hại do ma túy gây ra và pháp luật nghiêm cấm song bị cáo vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Để kịp thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy cần phải xử lý nghiêm minh đối với loại tội phạm này.
Do vậy, hành vi của Nguyễn Văn Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
Về nhân thân: Mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng có đặc điểm nhân thân xấu, đã bị Công an xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá khách quan, toàn diện vụ án cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam thấy bị cáo không có tài sản riêng gì; bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy là Heroine hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác trong vụ án: Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận mua Heroine của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực cầu S thuộc địa phận thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam. Ngoài lời khai của Đ, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác. Do vậy, không có căn cứ để điều tra làm rõ đối tượng đã bán Heroin cho Đ và nguồn gốc số Heroine đã thu giữ.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm 06 (tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số Heroine hoàn trả sau giám định trong 01 phong bì niêm phong, có số 270/KTHS. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục và Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Nam ngày 17/5/2024).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Bình Lục; - Công an huyện Bình Lục; - Nhà tạm giữ Công an huyện B; - Chi Cục THA dân sự huyện B; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hằng |