- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dam H. Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (đ…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nâng Sang Dam H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2024/HS-PT Ngày: 25-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/TLPT-HS ngày 12/01/2024 đối với bị cáo Nâng Sang Dam H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nâng Sang Dam H; sinh năm 1995; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn ĐH, xã Pró, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Chu ru; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 6/12; con ông Ya B và con bà Ma Đ; vợ: Đào Grơl Mử Nai Th; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 14/05/2023 Nâng Sang Dam H cùng với Kơ Tơr Ya Vũ, Pơ Năng Rin, Bơ Nhong Prom, Ya Drick, Sang Đăm Dương, Bơ Nhong Ya Lực đi làm rẫy cho Ya Cảnh ở khu vực đầu nguồn đập thuỷ lợi Pró. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, sau khi làm xong mọi người nhậu tại chòi của Ya Cảnh. Trong lúc nhậu thì Dam Hạn có rủ Kơ Tơr Ya Vũ, Ya Cảnh, Pơ Năng Rin, Bơ Nhong Prom, Ya Drick, Sang Đăm Dương, Bơ Nhong Ya Lực vào rừng cưa cây để Hạn mang về làm bàn thì mọi người đồng ý. Khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, Hạn dẫn nhóm người này đến khu vực chòi của mình tại khu vực “đầu đập Pró” và đợi Hạn đi lấy hai cưa máy, mua đồ ăn sau đó Hạn dẫn nhóm người nói trên đến khu vực lô c, khoảnh 12, tiểu khu 333A thuộc địa giới hành chính xã Pró. Khi đến nơi, mọi người phát cỏ, đốt lửa ngồi nhậu tiếp, còn Hạn dùng máy cưa mang theo cưa hạ 01 cây gỗ Tô Hạp có khối lượng là 11,561m3, sau khi cưa hạ thì cây gỗ đổ xuống khe suối không vận chuyển về được nên Hạn dẫn mọi người lên chỗ một cây gỗ Tô Hạp khác có khối lượng 4,624m3 (cây này đã bị cưa hạ trước đó) cách cây thứ nhất khoảng 200 mét. Lúc này Hạn dùng cưa máy xẻ cây gỗ trên thành hai lóng và tiếp tục xẻ một lóng thành hai tấm hộp. Trong quá trình cưa thì mọi người có phụ Hạn kẻ mực, lật gỗ, kê gỗ để Hạn xẻ gỗ. Đến khoảng 2 giờ 00 sáng ngày 15/05/2023, sau khi cưa được 02 phách gỗ thì Hạn đưa cưa cho Ya Cảnh, nói Cảnh cưa gỗ làm thành chân bàn, nhưng chưa kịp làm thì bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ.
Tại bản kết luận giám định số 486/CNR-VP ngày 10/8/2023 của Viện nghiên cứu nông nghiệp rừng kết luận: 02 cây gỗ do Hạn cưa xẻ tên Việt Nam là Tô Hạp, tên khoa học là Altingiasp.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 24/2021/KL-HĐĐGTS ngày 03/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đơn Dương kết luận 01 cây Tô Hạp (Altingiasp) thuộc nhóm 7, có đường kính 62cm, dài 15m và 01 cây Tô Hạp (Altingiasp) thuộc nhóm 7, có đường kính 100cm, dài 22m, khối lượng lâm sản là 16,185m3, có giá trị là 39.976.950 đồng.
Cáo trạng số 60/CT-VKSĐD ngày 02/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố bị can Nâng Sang Dam H về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HSST ngày 26/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương đã xử:
Tuyên bố bị cáo Nâng Sang Dam H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nâng Sang Dam H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo nộp bồi thường cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đơn Dương số tiền 39.976.950đ để sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 27/11/2023, bị cáo Nâng Sang Dam H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa thẩm, bị cáo khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử; đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 14/05/2023 Nâng Sang Dam H rủ Kơ Tơr Ya Vũ, Ya Cảnh, Pơ Năng Rin, Bơ Nhong Prom, Ya Drick, Sang Đăm Dương, Bơ Nhong Ya Lực vào khu vực lô c, khoảnh 12, tiểu khu 333A thuộc địa giới hành chính xã Pró khai thác trái phép 02 cây gỗ thuộc rừng phòng hộ là rừng tự nhiên có khối lượng lâm sản là 16,185m3.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nâng Sang Dam H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ mới sinh nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét nhân thân của bị cáo và xử phạt bị cáo mức án 24 tháng tù, mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, bị cáo hiện nay chưa khắc phục hậu quả, tình hình vi phạm về khai thác, bảo vệ rừng đang diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến sự ổn định và bền vững môi trường sinh thái, gây biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt con người. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nâng Sang Dam H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nâng Sang Dam H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nâng Sang Dam H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nâng Sang Dam H phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện Đơn Dương (10); - VKSND huyện Đơn Dương (01); - Cơ quan CSĐT CA huyện Đơn Dương (01); - Cơ quan THAHS huyện Đơn Dương (01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (07); - Hồ sơ THAHS (07); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đỗ Mạnh Hùng |