vanban.org

Bản án 48/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 29/02/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/02/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Minh T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt. [2] Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Khoản1 Điều 175 BLHS - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HS-PT
Ngày 29 - 02 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Triết

Các Thẩm phán: Ông Trịnh Văn Toàn, bà Nguyễn Thị Hạnh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 29/02/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLPT-HS ngày 26/01/2024 đối với bị cáo Võ Minh T, do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Võ Minh T (Tên gọi khác: H), sinh ngày: 11/12/1996, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện N, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; con ông Võ Văn M, sinh năm 1968 và con bà Nguyễn Phước Thị Ái L, sinh năm 1972; có vợ là H N Niê, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 220/2023/HS-ST ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Y K Mlô, sinh năm 1975; địa chỉ: Buôn D, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/9/2021, Võ Minh T đến nhà bố vợ là ông Y K Mlô ở Buôn D, xã C, huyện B hỏi mượn xe mô tô biển số 47U1-152.38 của ông Y K để đi lại. Ông Y K đồng ý cho T mượn xe và giao giấy tờ xe cho T. Sau khi mượn xe, T điều khiển xe mô tô nói trên xuống Đồng Nai để sử dụng. Sau đó vì không có tiền tiêu xài nên T đã tự ý đem bán xe mô tô của ông Y K cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 15.000.000 đồng. Số tiền này T đã sử dụng hết.

Bản kết luận định giá tài sản số 24 ngày 09/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Xe mô tô biển số 47U1-152.38, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, dung tích xi lanh 150cm3 có giá trị là 32.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Minh T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 18/12/2023.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự; án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 25/12/2023, bị cáo Võ Minh T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, thành khẩn khai báo về các nội dung của vụ án.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Về tội danh và điều luật áp dụng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Minh T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 06/9/2021, tại nhà ông Y K Mlô ở Buôn D, xã C, huyện B, Võ Minh T đã mượn xe mô tô biển số 47U1-152.38 của ông Y K Mlô là bố vợ của bị cáo, sau đó do không có tiền tiêu xài nên bị cáo đem bán chiếc xe mô tô cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh với giá 15.000.000 đồng để lấy tiền sử dụng cá nhân. Do đó, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Võ Minh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Minh T, thấy rằng:

Cấp sơ thẩm đã đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và áp dụng đầy đủ, đúng các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Do vậy, mức hình phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T là thỏa đáng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ là tình tiết mới để làm cơ sở xem xét làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Minh T, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Võ Minh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Minh T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Minh T (H) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 18/12/2023.

[2] Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Võ Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ