vanban.org

Bản án 48/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

I. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” của bà Vũ Cẩm T đối với ông Phạm Nhật M. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Vũ Cẩm T được ly hôn ông Phạm Nhật M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Cẩm T + Phạm Nhật M"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật hôn nhân
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03-7-2024
Về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi
con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình – Ông Nguyễn Văn Cơ

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách – Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Cẩm T - sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Nhật M - sinh năm 1993; Địa chỉ: Số G, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Vũ Cẩm T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Cẩm T và ông Phạm Nhật M kết hôn vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại số G, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng không thể tìm thấy tiếng nói chung trong cuộc sống. Vì con còn nhỏ nên bà Vũ Cẩm T cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, bà Vũ Cẩm T về nhà mẹ tại huyện H sống, người nào chỉ biết bổn phận người đó, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung nên bà Vũ Cẩm T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

- Về quan hệ con chung: Bà Vũ Cẩm T khai nhận có 01 con chung là Phạm Vũ Gia K – sinh ngày 21/8/2020.

Quá trình vợ chồng không sống chung thì bà Vũ Cẩm T là người trực tiếp nuôi con chung; hiện nay cháu đang còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ nên nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì nguyên vọng của bà Vũ Cẩm T là được nuôi con chung Phạm Vũ Gia K, không yêu cầu ông Phạm Nhật M cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Vũ Cẩm T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.

Bị đơn - ông Phạm Nhật M mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại BLTTDS, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Quá trình tòa án thụ lý giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đã có ý kiến trình bày quan điểm của mình và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS; mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để tham dự phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Vũ Cẩm T được ly hôn với ông Phạm Nhật M; giao bà Vũ Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Gia K – sinh ngày 21/8/2020, ông Phạm Nhật M không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung bà Vũ Cẩm T khai nhận không có nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về ly hôn giữa nguyên đơn bà Vũ Cẩm T với bị đơn ông Phạm Nhật M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Bị đơn ông Phạm Nhật M được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa ông Phạm Nhật M vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Phạm Nhật M.

Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Cẩm T đối với ông Phạm Nhật M thì thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Cẩm T và ông Phạm Nhật M đăng ký kết hôn năm ngày 26/7/2020 tại UBND xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 55/2020, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống bà Vũ Cẩm T cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng do bất đồng quan điểm sống. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông Phạm Nhật M vắng mặt không có lý do, bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng ngày càng trầm trọng.

HĐXX xét thấy, qua xác minh thì chính quyền địa phương nơi ông Phạm Nhật M và bà Vũ Cẩm T sống chung xác nhận vợ chồng bà T và ông M hiện nay đang sống ly thân là sự thật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa ông M và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Vũ Cẩm T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: Bà Vũ Cẩm T xác nhận bà và ông Phạm Nhật M có 01 con chung là Phạm Vũ Gia K – sinh ngày 21/8/2020. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Vũ Cẩm T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Phạm Nhật M cấp dưỡng nuôi con.

HĐXX xét thấy con chung còn nhỏ nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, khi ông Phạm Nhật M và bà Vũ Cẩm T ly thân thì bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên việc thay đổi môi trường sống của cháu là không cần thiết. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông M không có mặt để trình bày nguyện vọng của mình về việc nuôi con chung. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Cẩm T về việc nuôi con, giao con chung Phạm Vũ Gia K – sinh ngày 21/8/2020 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà Vũ Cẩm T không yêu cầu ông Phạm Nhật M cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

- Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Vũ Cẩm T khai nhận vợ chồng không có tài sản chung; xác định vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Nếu sau này bà Vũ Cẩm T và ông Phạm Nhật M có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác nếu có yêu cầu.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Án phí ly hôn 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà Vũ Cẩm T phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116 Luật hôn nhân, gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

I. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” của bà Vũ Cẩm T đối với ông Phạm Nhật M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Vũ Cẩm T được ly hôn ông Phạm Nhật M.

2. Về quan hệ con chung:

Giao con chung Phạm Vũ Gia K – sinh ngày 21/8/2020 cho bà Vũ Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Phạm Nhật M không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Vũ Cẩm T khai nhận không có tài sản chung, xác định vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

II. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Án phí ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà Vũ Cẩm T phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000522 ngày 20.3.2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Vũ Cẩm T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

III. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07, 07a và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ