vanban.org

Bản án 48/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị H đối với anh Phạm Văn B. Chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn B.

2. Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Ngọc Mai Phương, sinh ngày 21/5/2018 cho chị Hoa trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Bình do chị Hoa không yêu cầu. Anh Bình có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoa -Bình"
  • Tòa quyết gì? 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị H đối với anh Phạm Văn B. Chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 9 - 2024.
“Về việc ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Xuân Trà.

Các hội thâm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Trung; bà Đặng Thị Đào

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Miền - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 76/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Xóm C, xã C, huyện Ph, tỉnh Thái nguyên.

(Có mặt).

* Bị đơn: Anh Phạm Văn B, sinh năm: 1994.

Địa chỉ: Xóm C, xã C, huyện Ph, tỉnh Thái nguyên

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Đỗ Thị H trình bày:

Chị kết hôn với anh Phạm Văn B trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 25/8/2020. Sau khi kết hôn giữa hai vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc, nhưng về sau vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Bình chơi bời, không lo làm ăn, hay có hành vi bạo lực gia đình như đánh, chửi vợ. Chị Hoa đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Bình không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2021 đến nay. Trong thời gian ly thân tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau nữa. Chị Hoa thấy không thể duy trì được tình trạng hôn nhân nên chị Hoa kiên quyết xin được ly hôn với anh Phạm Văn B.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung tên là Đỗ Ngọc Mai Phương, sinh ngày 21/5/2018, hiện chị Hoa vẫn đang nuôi dưỡng, chăm sóc. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh Bình phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung:

+ Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

+ Về nợ chung: Vợ chồng chị Hoa, anh Bình không nợ ai và không cho ai nợ.

*Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các giấy triệu tập đối với anh Bình, nhưng anh Bình đều vắng mặt. Tòa án đã tiên hành xác minh tại nơi cư trú đối với anh Bình, kết quả cho thấy: Tại thời điểm xác minh anh Bình vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương, nhưng anh Bình không có mặt tại địa phương. Đồng thời, theo thông tin của bà Phan Thị Diện là mẹ đẻ của anh Bình thì anh Bình đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà, còn anh Bình làm gì ở đâu bà Diện không biết, bà có hỏi nhưng anh Bình không nói.

Tại phiên Tòa chị Hoa vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là xin ly hôn với anh Phạm Văn B. Bị đơn vắng mặt và không nộp cho Tòa án bất cứ tài liệu gì.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên Tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa, đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật;

Về nội dung: Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị H về việc xin ly hôn đối với đối với anh Phạm Văn B. Về con chung đề nghị giao con chung là cháu Đỗ Ngọc Mai Phương, sinh ngày 21/5/2018, cho chị Hoa trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; Về cấp dưỡng không đề nghị xem xét do chị Hoa không yêu cầu.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoa phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn mà bị đơn có địa chỉ nơi đăng ký thường trú tại Xóm C, xã C, huyện Ph, tỉnh Thái nguyên. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Phạm Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Bình là đúng quy định.

. Về nội dung:

Đối với yêu cầu khởi kiện về ly hôn của chị Hoa:

Chị Hoa đề nghị được ly hôn với anh Bình là vì giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Bình chơi bời, không lo làm ăn, bản thân anh Bình hay say rượu và có hành vi bạo lực gia đình như đánh, chửi và ngược đãi vợ. Chị Hoa đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Bình không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ 8 năm 2021 đến nay. Trong thời gian ly thân tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Hoa kiên quyết xin được ly hôn với anh Phạm Văn B là có cơ sở chấp nhận.

Tòa án đã tiến hành ghi lời khai của bà Phan Thị Diện là mẹ đẻ của anh Bình, bà Diện trình bày: Bà ở cùng nhà với anh Bình nên bà biết sau khi chị Hoa với anh Bình kết hôn, về ở tại Xóm C, xã C, huyện Ph, Thái Nguyên. Trong thời gian chung sống vợ chồng chị Hoa, anh Bình có sảy ra mẫu thuẫn, và đã ly thân từ năm 2021 đến nay, chị Hoa và anh Bình có một con chung sinh năm 2018 hiện đang ở với chị Hoa. Về tài sản chung và nợ chung chị Hoa và anh Bình không có.

Như vậy, nội dung trình bày của chị Hoa tại đơn khởi kiện và trong quá trình Tòa án giải quyết cũng như tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người làm chứng bà Phan Thị Diện cũng như phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Sau khi xem xét, đối chiếu với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chị Hoa, anh Bình đã đến mức mâu thuẫn trầm trọng, hai bên không còn tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, thời gian sống ly thân đã lâu mà tình cảm dành cho nhau không còn, không còn khả năng đoàn tụ để xây dựng gia đình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của chị Hoa đề nghị giải quyết việc ly hôn với anh Bình là có căn cứ, cần được chấp nhận phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Con chung tên là Đỗ Ngọc Mai Phương, sinh ngày 21/5/2018, hiện chị Hoa vẫn đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, chị không yêu cầu anh Bình phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị cung cấp cho Tòa án bảng sao kê thu nhập hàng tháng của chị với mức từ 7.000.000 đến 10.000.000/tháng. Đồng thời chị trình bày chị có nơi ở hợp pháp và ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Phía anh Bình thì thường xuyên đi làm xa, ít khi về nhà nên nếu giao con chung cho anh Bình trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng thì quyền, lợi ích hợp pháp và các điều kiện khác đối với con chung sẽ không đảm bảo được tốt nhất. Do đó, Hội đồng xét thấy cần giao cháu Mai Phương cho chị Hoa trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp, đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển bình thường của trẻ em.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoa không yêu cầu nên không xem xét

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoa chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ pháp luật:

Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân gia đình và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2. Tuyên xử:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị H đối với anh Phạm Văn B. Chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn B.

2.2. Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Ngọc Mai Phương, sinh ngày 21/5/2018 cho chị Hoa trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Bình do chị Hoa không yêu cầu. Anh Bình có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung:

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.4. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0004606 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Chị Hoa đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

2.5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, có mặt chị Hoa, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; vắng mặt anh Phạm Văn B, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- TAND tỉnh Thái Nguyên (01b);

- VKSND tỉnh Thái Nguyên (01b);

- VKSND h. Phú Lương;

- Chi cục THADS h. Phú Lương

- Các đương sự ;

- UBND xã Cổ Lũng, h. Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (01b);

- Lưu.

Tạ Xuân Trà THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Xuân Trà

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ