- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Lê Thị H và anh Tô Văn G"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Tô Văn G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-5-2024 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Mộng Lành
2. Ông Hà Minh Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 66/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1988 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã TT, huyện TL, Thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Anh Tô Văn G, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp 6B, xã N, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 01 năm 2023, đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 22 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh Tô Văn G chung sống với nhau vào năm 2007, đến năm 2015 đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TL, Thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển số 01/2015 ngày 06 tháng 8 năm 2015. Chị và anh Tô Văn G có 02 người con chung tên: Lê Thị Huỳnh N, sinh ngày 29/5/2008 và Tô Lê Hoàng Ng, sinh ngày 24/12/2015 hiện nay đang sống chung với chị; về tài sản chung về nợ, chị và anh Tô Văn G không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống chị và anh Tô Văn G sống hạnh đến năm 2022 thì phát sinh nhiêu mâu thuẫn, thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau về vấn đề làm ăn kinh tế gia đình và anh Tô Văn G thường xuyên đánh đập, hành hạ chị nên chị và anh Tô Văn G đã sống ly thân từ tháng 01/2023 cho đến nay. Chị thấy, chị và anh Tô Văn G không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Về quan hệ hôn nhân, chị yêu cầu được ly hôn với anh Tô Văn G. Về quan hệ con chung khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 người con chung tên Lê Thị Huỳnh N, sinh ngày 29/5/2008 và Tô Lê Hoàng Ng, sinh ngày 24/12/2015 đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của các con Lê Thị Huỳnh N và Tô Lê Hoàng Ng, chị không yêu cầu anh Tô Văn G cấp dưỡng con. Về tài sản chung chị và anh Tô Văn G không có tài sản chung, không tranh chấp, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ, không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết và chị cam kết không có nợ người khác, chị không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu giải quyết gì khác.
* Tại các Bản trình bày nguyện vọng ngày ngày 08/02/2024 của Lê Thị Huỳnh N và Tô Lê Hoàng Ng như sau:
Lê Thị Huỳnh N và Tô Lê Hoàng Ng con của anh Tô Văn G và chị Lê Thị H. Từ khi anh Tô Văn G và chị Lê Thị H không sống chung đến nay thì Lê Thị Huỳnh N và Tô Lê Hoàng Ng chung sống với chị Lê Thị H. Nếu cha mẹ của Lê Thị Huỳnh N và Tô Lê Hoàng Ng ly hôn thì Lê Thị Huỳnh N và Tô Lê Hoàng Ng có nguyện vọng chung sống với mẹ là chị Lê Thị H.
* Tại Biên bản xác minh ngày 06/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:
Anh Tô Văn G và chị Lê Thị H, cư trú ấp 6 B, xã N, huyện AB, tỉnh Kiên Giang chung sống hạnh phúc được một thời gian thì thường xuyên cự cãi chuyện làm ăn kinh tế gia đình nên hôn nhân không còn hạnh phúc, chị Lê Thị H và anh Tô Văn G sống ly thân với nhau. Anh Tô Văn G và chị Lê Thị H có 02 người con chung, hiện nay đang chung sống với chị Lê Thị H.
* Bị đơn anh Tô Văn G: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Tô Văn G biết để anh có ý kiến về việc chị Lê Thị H yêu cầu ly hôn với anh Tô Văn G và tranh chấp về nuôi con nhưng anh Tô Văn G không có ý kiến yêu cầu gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Căn cước công dân tên Lê Thị H (Bản sao) và sổ hộ khẩu (Bản phô tô); Căn cước công dân Tô Văn G và sổ hộ khẩu (Bản phô tô); Giấy chứng nhận kết hôn chị Lê Thị H và anh Tô Văn G số: 50, quyển số 01/2015 ngày 06 tháng 8 năm 2015 của xã TT, huyện TL, Thành phố Cần Thơ (Bản chính); Giấy khai sinh tên Lê Thị Huỳnh N (Bản sao); Trích lục khai sinh Tô Lê Hoàng Ng (Bản sao); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của người bị kiện ngày 16 tháng 01 năm 2023 của chị Lê Thị H (Bản chính); Biên bản xác minh ngày 06/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); Bản trình bày nguyện vọng ngày 08/02/2024 của Lê Thị Huỳnh N và Lê Hoàng Nguyên (Bản chính).
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Lê Thị H gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Tô Văn G vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các thủ tục tố tụng dân sự đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự và gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do đề nghị Hội đồng xét xử, xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Lê Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Tô Văn G và nuôi con là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Tô Văn G. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao 02 người con chung của anh chị cho chị Lê Thị H tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của các con anh chị. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ, chị Lê Thị H tự xác định không có và anh chị không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị H yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Tô Văn G và nuôi con. Bị đơn cư trú tại: ấp 6B, xã N, huyện AB, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Tô Văn G biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh nhưng anh Tô Văn G không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Tô Văn G vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây là thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị Lê Thị H và anh Tô Văn G thì chị Lê Thị H gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt, anh Tô Văn G vẫn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Lê Thị H và anh Tô Văn G theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Lê Thị H và anh Tô Văn G chung sống với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TL, Thành phố Cần Thơ là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 50, quyển số 01/2015 ngày 06 tháng 8 năm 2015, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét khởi kiện của chị Lê Thị H được ly hôn với anh Tô Văn G, chị và anh Tô Văn G thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau trong công việc làm ăn trong gia đình, anh Tô Văn G thường xuyên đi biển, không quan tâm vợ con. Chị thấy, chị và anh Tô Văn G không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu được ly hôn với anh Tô Văn G thì anh Tô Văn G không có ý kiến yêu cầu gì, không quan tâm đến việc chị Lê Thị H yêu cầu ly hôn với anh Tô Văn G là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị H cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Tô Văn G. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và yêu cầu của chị Lê Thị H, cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Tô Văn G là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung, chị Lê Thị H và anh Tô Văn G có 02 người con chung tên Lê Thị Huỳnh N, sinh ngày 29/5/2008 và Tô Lê Hoàng Ng, sinh ngày 24/12/2015 hiện nay đang sống chung với chị Lê Thị H. Khi ly hôn, chị Lê Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung, anh Tô Văn G không có ý kiến yêu cầu gì, đồng thời 02 người con chung của anh chị từ khi anh chị ly thân đến nay chung sống với chị Lê Thị H, đã thích nghi với cuộc sống hiện tại và có nguyện vọng chung sống với chị Lê Thị H. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Lê Thị H và nguyện vọng của các con anh chị, giao 02 người con chung tên Lê Thị Huỳnh N, sinh ngày 29/5/2008 và Tô Lê Hoàng Ng, sinh ngày 24/12/2015 cho chị Lê Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Lê Thị H không yêu cầu anh Tô Văn G cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ, chị Lê Thị H tự xác định, anh chị không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị Lê Thị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Tô Văn G.
2. Về quan hệ con chung: Giao 02 người con chung tên Lê Thị Huỳnh N, sinh ngày 29/5/2008 và Tô Lê Hoàng Ng, sinh ngày 24/12/2015 cho chị Lê Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của Lê Thị Huỳnh N và Tô Lê Hoàng Ng, hiện nay đang chung sống với chị Lê Thị H.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị H không yêu cầu anh Tô Văn G cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ: Chị Lê Thị H tự xác định, anh chị không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị Lê Thị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
5. Về án phí: Buộc chị Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006521 ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Lê Thị H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - Chi cục THADS huyện An Biên; - UBND xã TT, huyện TL, thành phố Cần Thơ; - Các đương sự; - Lưu: HSVA,VP (Kiều). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thảo |