- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T (M) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HSST Ngày: 25/4/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Không
2. Ông Trần Văn Thức
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Học - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Thanh T (tên gọi khác: M), sinh năm 1980, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở: ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1, sinh năm: 1948 (đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm: 1949 (đã chết); Bị cáo có vợ Phạm Thị Thùy N1, sinh năm: 1980 và 04 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: không;
Tiền sự: Ngày 18/10/2013 bị Ủy ban nhân dân huyện C quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 111/QĐ-UBND. Ngày 17/01/2015 được cho tại ngoại để điều trị bệnh đến nay vẫn chưa chấp hành xong;
Nhân thân:
+ Ngày 29/10/2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", chấp hành xong ngày 20/9/2011.
+ Ngày 19/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 10 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong ngày 15/11/2018.
+ Ngày 17/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phat 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong ngày 20/6/2020.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2022 cho đến nay (có mặt).
- Người chứng kiến: anh Nguyễn Quang H, sinh năm: 1994
Nơi cư trú: ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh T là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 13/12/2022 T đón xe ôm đi đến khu vực A, huyện X gặp một người phụ nữ tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Tại đây, L bán cho T một túi nilong bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng với số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, T đem về nhà cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho nhu cầu bản thân, T chia nhỏ số ma túy vào 12 đoạn ống hút nhựa màu trắng, để sử dụng thành nhiều lần, số ma túy còn lại T vẫn để trong túi nilong. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2022 T đi bộ từ nhà ra chợ đem theo toàn bộ số ma túy trên bỏ trong gói thuốc lá nhãn hiệu Bastos cất giấu trong túi quần bên phải. Khi đi đến đoạn đường B thuộc ấp N, xã X, huyện C thì bị lực lượng Công an xã X phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy trên.
Tại Kết luận giám định số 2707/KL-KTHS ngày 20/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 2,4185 gam, loại: Heroin.
Tại Cáo trạng số 49/CT-VKSCM ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Về vật chứng vụ án: đề nghị tịch thu, tiêu hủy một phong bì niêm phong ma túy có hình dấu mộc đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai số 2707/KL-KTHS ngày 20/12/2022 và một gói thuốc lá nhãn hiệu Bastos màu đỏ là vật không có giá trị; Đối với đối tượng tên L có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Thanh T tại khu vực A, huyện X, tỉnh Đồng Nai hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án: Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Để có ma túy sử dụng bị cáo đã có hành vi tàng trữ 2,4185 gam ma túy, loại Heroin. Hành vi của bị cáo Trần Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo thực hiện rất nguy hiểm, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái pháp chất ma túy không những xâm phạm đến tính độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Ngoài ra, bị cáo có 01 tiền sự về việc sử dụng ma túy và có nhân thân xấu nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối với đối tượng tên L có hành vi bán trái phép chất ma túy cho T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Về các biện pháp tư pháp: 01 phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định số 2707/KL-KTHS ngày 20/12/2022 có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy. 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Bastos màu đỏ là vật không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T (M) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T (M) 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 14/12/2022.
2. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy một phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định số 2707/KL-KTHS có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và một gói thuốc lá nhãn hiệu Bastos màu đỏ.
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2023.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - CQCSĐT, NTG CA h.Cẩm Mỹ; - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ; - Bị cáo; - Bộ phận THA Hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Thị Thùy Trang |