- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 48/2023/HS-ST Ngày 13-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung;
2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D và điểm cầu thành phần tại Công an thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng xét xử Tr tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Thị N, sinh năm 1998 tại tỉnh Hải Dƣơng; thƣờng trú: khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Trần Thị H, sinh năm 1977; bị cáo chƣa có chồng, con.
Tiền án: Ngày 22/11/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 267/2018/HS-ST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2019.
Nhân thân: Ngày 13/10/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo Quyết định số 52/2020/QĐ-TA), chấp hành xong ngày 20/11/2021. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2020 đến ngày 13/3/2020. Hiện nay bị cáo đang bị Công an thành phố T bắt tạm giam để điều tra về hành vi phạm tội tại vụ án khác, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Trần Thị N là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 22/11/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 267/2018/HS-ST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2019 (chƣa đƣợc xóa án tích). Khoảng 22 giờ ngày 10/3/2020, N đến phòng trọ của Trần Hữu H, tại nhà trọ đƣờng Nguyễn Trung Tr, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng chơi và ngủ lại qua đêm. Đến khoảng 13 giờ ngày 11/3/2020, Trần Thị N đi bộ từ phòng trọ số 16 của Trần Hữu H ra đƣờng Nguyễn Trung Tr để đi về thì phát hiện lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng T đi tuần tra nên N lấy trong ví da ra 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đồng đƣợc cuộn tròn bên trong chứa chất ma túy ném xuống đƣờng thì bị lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng T phát hiện bắt giữ ngƣời cùng tang vật. Đến 14 giờ 15 phút ngày 11/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng phối hợp với Công an phƣờng T tiến hành lệnh khám xét phòng trọ số 16, đƣờng Nguyễn Trung Tr, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng của Trần Hữu H. Qua khám xét trong phòng trọ có Trần Hữu H, Cơ quan Công an thu giữ 01 túi nylon miệng kéo dính, bên trong có 03 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng để trong túi quần phía trƣớc bên phải của Trần Hữu H; 01 bộ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa; 01 ống hút nhựa; 01 nỏ thủy tinh và 01cân tiểu ly. Qua điều tra xác định nguồn ma túy Cơ quan Công an thu giữ của N, là do ngƣời bạn tên Th (không rõ nhân thân) cho để sử dụng. H không biết N tàng trữ ma túy. Ma túy thu giữ của H là do H mua của ngƣời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực công viên Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 700.000đồng. Mục đích mua ma túy là để sử dụng, N không biết H tàng trữ ma túy.
Căn cứ Kết luận giám định số 121/PC09 ngày 13 tháng 3 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng bên trong tờ tiền 1000 đồng gửi giám định thu giữ của Trần Thị N là ma túy, có trọng lƣợng: 0,2980 gam, loại Ketamine.
- Mẫu tinh thể màu trắng trong gói nylon miệng kéo dính đựng 03 (ba) gói nylon miệng kéo dính gửi đến giám định thu giữ của Trần Hữu H là ma túy, có trọng lƣợng: 0,5304 gam, loại Methamphetamine.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Hữu H, đã đƣợc Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng xét xử theo Bản án số 318/2020/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2020.
Về xử lý vật chứng: Đã đƣợc Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng xét xử, xử lý trong vụ án Trần Hữu H theo Bản án số 318/2020/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2020.
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 07 tháng 02 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị N với mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng, bị cáo Trần Thị N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay kH nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị N đã khai nhận hành vi phạm tội đúng nhƣ cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 22/11/2018, bị cáo Trần Thị N bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 267/2018/HS-ST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2019 nhƣng chƣa đƣợc xóa án tích. Ngày 11/3/2020, Trần Thị N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lƣợng 0,2980 gam, loại Ketamine. Hành vi của bị cáo tàng trữ ma túy có khối lƣợng 0,2980 gam loại Ketamine nhằm mục đích tàng trữ để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, Tr tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nƣớc. Về nhận thức, bị cáo biết ma túy (Ketamine) là loại chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nƣớc độc quyền và thống nhất quản lý. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Năm 2018, bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, đến năm 2020 tiếp tục bị Tòa án áp dụng bện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhƣng sau khi chấp hành xong bị cáo lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng chứng tỏ bị cáo xem thƣờng pháp luật. Ngoài ra, ngày 26/8/2022 bị cáo tiếp tục bị Công an thành phố T bắt tạm giam để điều tra về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cho đến nay. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Về xử lý vật chứng: Đã đƣợc Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng xét xử, xử lý trong vụ án Trần Hữu H theo Bản án số 318/2020/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2020 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đƣợc chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo đƣợc tính trừ thời gian tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 11/3/2020 đến ngày 13/3/2020.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trần Thị N phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D; - Công an thành phố D; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D; - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cƣ trú; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |