vanban.org

Bản án 48/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phạm Thị P 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 31/3/2023.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, theo Biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự quận K, thành phố H. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Thị P 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 31/3/2023.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN K
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HS-ST
Ngày 25-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lã Anh Tuấn

Ông Nguyễn Công Biên

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hữu Hảo, Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố H.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân phường P, quận K, thành phố H; xét xử sơ thẩm, lưu động, công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Phạm Thị P, tên gọi khác: Không, sinh ngày 18/6/1990, giới tính: Nữ. Nơi sinh: Tỉnh T; nơi thường trú: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, Tỉnh T; nơi ở: Ngõ X K, phường V, Quận L, thành phố H. Dân tộc Kinh, quốc tịch Việt Nam, tôn giáo: Không, nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá: 9/12. Con ông Phạm Văn N, đã chết; con bà Hoàng Thị L, sinh năm 1969; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có chồng con. Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/3/2023, chuyển tạm giam ngày 06/4/2023 tại Trại tạm giam Công an thành phố H. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 13 giờ ngày 31/3/2023, Phạm Thị P một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát Z đi đến khu vực ngõ V đường T, Quận L, thành phố H gặp và đưa cho người đàn ông (không quen biết, không xác định được căn cước, lai lịch) 400.000 đồng, người đàn ông đưa cho P 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 túi nilon kích thước 2,8 x 2,5 cm màu trắng chứa ma túy đá. P cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi áo khoác ngoài bên trái, phía trước. Sau đó, P đi xe mô tô về địa bàn quận K để tìm chỗ sử dụng. Đến 14 giờ 05 phút cùng ngày, khi P đi đến khu vực gầm cầu Đ, thuộc tổ T, phường Q, quận K, thành phố H thì bị Công an quận K phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tại túi áo khoác ngoài bên trái phía trước của P 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 túi nilon kích thước 2,8 x 2,5 cm màu trắng chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (mẫu số 01), ngoài ra còn thu giữ của P 01 xe mô tô biển kiểm soát Z. Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận K đã khám xét nơi ở của Phạm Thị P. Quá trình khám xét, tổ công tác không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Bản Kết luận giám định số 295/KL-KTHS(MT) ngày 04/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,45 gam, loại Methamphetamine.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Phạm Thị P. Kết quả, P dương tính với test thử chất ma túy Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Phạm Thị P khai nhận phù hợp với nội dung trên. Ngoài ra, P còn khai cách ngày bị bắt khoảng 05 ngày P sử dụng ma túy một mình nhưng không nhớ địa điểm. Nguồn gốc số tiền mua ma túy do P lao động mà có. P không có quan hệ quen biết gì với người đàn ông bán ma túy cho P, khi bán ma túy người này đeo khẩu trang nên P không nhớ được đặc điểm ngoại hình của người này. Nguồn gốc chiếc xe mô tô biển kiểm soát Z do P mượn của Vũ Trọng Q (Sinh năm 1988, trú tại: Đường T, phường K, Quận L, thành phố H), khi mượn xe P không nói với Q việc sử dụng xe đi mua ma túy.

Ngày 05/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Thị P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng số 52/CT-VKSKA ngày 07/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận K truy tố bị cáo Phạm Thị P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thị P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt Phạm Thị P từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Thị P. Xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát Z Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Bị cáo thống nhất với quan điểm luận tội của Viện Kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận K thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Phạm Thị P có hành vi cất giữ trái phép 1,45 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của Phạm Thị P đã vi phạm Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Với việc cất giữ trái phép 1,45 gam ma túy, loại Methamphetamine, Phạm Thị P đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điều luật quy định:“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…c) … Methamphetamine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận K đã truy tố Phạm Thị P ra trước Toà án nhân dân quận K để xét xử về tội danh theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Việc áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự để xử phạt Phạm Thị P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với một mức án nghiêm khắc và cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

- Đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, với những quy định nghiêm ngặt bởi chất ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm; vi phạm quy định về quản lý chất ma túy không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước mà còn tạo ra lớp người nghiện, qua đó đe dọa nghiêm trọng đến an toàn xã hội, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển bình thường của giống nòi Việt Nam và đây cũng là nguồn gốc phát sinh những loại tội pháp khác. Vì vậy pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

- Xem xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phạm Thị P:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thị P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thị P được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của Phạm Thị P tại phiên tòa cho thấy Phạm Thị P không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Phạm Thị P.

- Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho P tại khu vực ngõ V đường T, Quận L, thành phố H chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của P cách ngày bị bắt 05 ngày, do P không nhớ rõ địa điểm sử dụng ma túy nên không có cơ sở để xử lý.

- Vật chứng của vụ án:

Vật chứng của vụ án gồm: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì thư, chiếc xe mô tô biển kiểm soát Z.

Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát Z: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K chưa xác định được chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát Z nên đã tách ra để tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

- Về án phí:

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Phạm Thị P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị P 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 31/3/2023.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, theo Biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự quận K, thành phố H.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Phạm Thị P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Phạm Thị P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ