- Tranh chấp gì? án hình sự — "danh bac - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HS-ST Ngày: 07-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Nhơn
2. Ông Nguyễn Hải Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Yến–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:Bà Phan Thị Trúc Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2023/HSST, ngày 06 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Hồ Văn H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1959; tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long; trú tại: ấp S, xã M, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn S (đã chết) và bà Phạm Thị T (đã chết); tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: Ngày 29/10/2012 bị Tòa án nhân dân huyện R xử 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo và phạt bổ sung 5.000.000đồng về tôi đánh bạc. Bị cáo chấp hành xong, được xóa án tích. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Đỗ Thị N, sinh năm 1970 “vắng mặt”.
Địa chỉ cư trú: ấp N, xã M, huyện R, tỉnh Vĩnh Long.
2. Nguyễn Xuân A, sinh năm 1976 “vắng mặt”.
Địa chỉ cư trú: ấp G, xã T, huyện R, tỉnh Vĩnh Long.
3. Phạm Mười E (Út T, Út H), sinh năm 1981 “có mặt”
Địa chỉ cư trú: ấp C, xã T, huyện R, tỉnh Vĩnh Long.
Người làm chứng:Văn Thị L, sinh năm 1968 “vắng mặt”
Địa chỉ cư trú: ấp S, xã M, huyện R, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 16 giờ 40 phút ngày 13/3/2023, lực lượng Cảnh sát hình sự Công an huyện R phát hiện Hồ Văn H, sinh năm 1959, ngụ ấp S, xã M, huyện R, tỉnh Vĩnh Long có hoạt động đánh bạc trái phép dưới hình thức bán sô lô, số đề tại nhà của H nên kiểm tra phát hiện H đang ngồi trong phòng khách ghi các con số lô, số đề vào tờ giấy tập học sinh nên tiến hành lập biên bản vi phạm. Tang vật thu giữ gồm:
+ 01 điện thoại di động cảm ứng màu đen phía sau có chữ REALME màu trắng, kiểu máy RMX1811;
+ 03 tờ giấy có ghi nhiều con số được đánh số màu xanh và màu đỏ được đánh số thứ tự từ 01-03, có chữ ký của Hồ Văn H;
+ 02 cây viết píc (gồm 01 cây mực màu xanh và 01 cây mực màu đỏ).
+ 01 quyển tập học sinh
+ 11 tờ giấy trắng được cắt, xé nhỏ
+ Số tiền 1.820.000đồng.
+ 01 mắt kính màu vàng.
+ Kiểm tra khu vực xung quanh tạm giữ 01 tờ giấy ghi nhiều con số và chữ màu xanh được đánh số thứ tự là 04, có chữ ký của Hồ Văn H;
Hồ Văn H khai nhận các phơi đề mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ là của Hồ Văn H hoạt động ghi bán số lô, số đề lưu lại. Cụ thể: phơi đề đánh số 01 và phơi đề số 03 ghi bán số lô, số đề ngày 13/3/2023, H sao chép tổng hợp lại vào phơi đề đánh số 02 là phơi đề có ghi số bán cho một số người mua trên đường, nhưng đang sao chép thì bị bắt quả tang. Phơi đề còn lại đánh số 04 thì Hồ Văn H không nhớ ngày bán, người mua và số tiền cụ thể. Hồ Văn H bán số đề từ cuối tháng 02/2023 đến ngày 13/3/2023 bị bắt quả tang. H tự chung chi với người mua dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam mở thưởng trong ngày. H sử dụng điện thoại di động hiệu REALME màu trắng, kiểu máy RMX1811, gắn sim số 077.4016.243 có cài ứng dụng Zalo tên “Thao” để liên lạc cá nhân, nếu ai có nhu cầu mua số đề thì trực tiếp gặp H mua số đề hoặc gọi cho H và đọc số cần mua, số tiền mua, công ty xổ số tương ứng, H sẽ ghi âm lại, hoặc người mua ghi con số, số tiền, đài tương ứng vào tờ giấy rồi chụp hình, nhắn gửi hình chụp qua Zalo cho H, sau khi nhận tin nhắn thì H trả lời “Ok”, tức là đồng ý bán các con số đề. Sau khi các Công ty xổ số kiến thiết mở thưởng thì H tổng hợp các con số đề đã bán và đối chiếu, kiểm tra kết quả thắng, thua để thanh toán tiền với người mua vào ngày hôm sau.
Hình thức hoạt động bán số đề là số đầu, số đuôi, bao lô và số đá. Tiền tính với người mua theo thỏa thuận là 1:1; đối với số đầu, số đuôi thì kết quả thắng thua căn cứ vào 02 con số ở giải tám và 02 số cuối ở giải đặc biệt; đối với bao lô 02 chữ số thì kết quả thắng thua căn cứ vào 02 số cuối của các lô kết quả xổ số kiến thiết từ giải tám đến giải đặc biệt, tính tiền theo tỷ lệ 1/13; đối với bao lô ba chữ số thì kết quả thắng thua căn cứ vào 03 con số cuối của các lô kết quả xổ số kiến thiết từ giải bảy đến giải đặc biệt tính tiền theo tỷ lệ 1/12; đối với số đá thì người mua tự chọn 01 cặp số, mỗi số có 02 chữ số ở cùng một hoặc khác Công ty xổ số kiến thiết, tính tiền theo tỷ lệ 1/13.
Tỷ lệ thắng thua của số đầu, số đuôi và bao lô 02 chữ số là 1/70, tức mua số tiền 1.000đ thì trúng được số tiền 70.000đồng; bao lô 03 chữ số thì tỷ lệ thắng thua là 1/600, tức mua số tiền 1.000đồng thì trúng được số tiền 600.000đồng, nếu số đá tỷ lệ thắng thua là 1/500, tức mua số tiền 1.000đồng thì trúng được số tiền 500.000đồng. Cách thức xác định thắng thua của số lô, số đề là căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết của các đài tương ứng trong ngày.
Qua kiểm tra phơi đề, cộng phơi đề và đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết các đài tương ứng trong ngày 13/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra chứng minh được Hồ Văn H bán số lô, số đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp, Cà Mau và Thành phố Hồ Chí Minh cho những đối tượng sau:
Đỗ Thị N, sinh năm 1970, ngụ ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau, (nơi ở hiện nay ấp N, xã M, huyện R, tỉnh Vĩnh Long). Khoảng 07 giờ ngày 13/3/2023, một phụ nữ tên Lệ nhờ N mua số đề giúp nên N ghi các con số mà Lệ cần mua vào tờ giấy với số tiền mua là 2.596.000đồng, khoảng 11 giờ phút cùng ngày, N dùng điện thoại di động hiệu VIVO màu đen có gắn sim số 0906352128 có cài ứng dụng Zalo tên “Đỗ Thị N” chụp hình tờ giấy rồi gửi hình tờ giấy có ghi số đề cho H qua tài khoản Zalo tên “Thao”, H nhắn tin lại “Ok”, H chép các con số N mua vào phơi số 01. Để thu hút người chơi, H chỉ tính N số tiền 1.886.000đ, số tiền chênh lệnh 710.000đồng. Kết quả không trúng. Số tiền đánh bạc của Đỗ Thị N là 2.596.000đồng.
Nguyễn Xuân A, sinh năm 1976, ngụ ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Vĩnh Long, (nơi ở hiện nay ấp G, xã T, huyện R). Khoảng 15 giờ ngày 13/3/2023, A sử dụng điện thoại di động có gắn sim số 0932.872.725 gọi vào số 0774.016.243 của H mua số đề với số tiền 570.000đ, nhưng H chỉ tính số tiền 495.000đ, số tiền chênh lệnh 75.000đ (H ghi vào phơi số 01). Sau khi có kết quả xổ số A trúng số tiền 3.850.000đ (con số 99, đài Đồng Tháp đầu 50.000đồng x 70.000đ = 3.500.000đồng và bao lô 5.000đồng x 01 lô x 70.000đồng= 350.000đồng). Số tiền đánh bạc của Nguyễn Xuân A là 4.420.000đồng.
Phạm Mười E (Út Trắng, Út Huê), sinh năm 1981, ngụ ấp C, xã T, huyện R, khoảng 14 giờ ngày 13/3/2023, E sử dụng điện thoại hiệu VIETTEL có gắn sim số 0907.806.245 gọi vào số 0774.016.243 của H mua số đề với số tiền 1.940.000đồng, nhưng H chỉ tính số tiền 1.440.000đồng, số tiền chênh lệnh 500.000đồng (H ghi vào phơi số 01). Sau khi có kết quả xổ số E trúng số tiền 2.100.000đồng (con số 89 đài Đồng Tháp bao lô 10.000đồng x 03lô x 70.000đồng= 2.100.000đồng). Số tiền đánh bạc của Phạm Mười E là 4.040.000đồng.
H bán trực tiếp cho một một người phụ nữ (không rõ lai lịch) tại chợ R với số tiền mua là 1.290.000đồng, nhưng H chỉ lấy số tiền 1.040.000đồng, số tiền chênh lệnh 250.000đồng (H ghi vào phơi số 03). Sau khi có kết quả xổ số người phụ nữ này trúng số tiền 1.400.000đồng (con số 18 đài Đồng Tháp bao lô 20.000đồng x 01lô x 70.000đồng= 1.400.000đồng). Số tiền đánh bạc của người này là 2.690.000đồng
Ngoài ra ngày 13/3/2023 H còn bán trực tiếp cho nhiều người khác trên đường đi nhưng không xác định được lai lịch mà chỉ nhớ mặt, H bán được 4.625.000đồng, đã lấy tiền được 770.000đồng (thể hiện ở phơi đề đánh số 1 và một phần của phơi số 2). Sau khi có kết quả xổ số số tiền trúng của những người này là 3.850.000đồng.
Như vậy, ngày 13/3/2023 Hồ Văn H bán số đề được số tiền 11.021.000đồng, trúng được số tiền 11.200.000đồng. Tổng cộng Hồ Văn H chịu trách nhiệm hình sự với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 22.221.000đ (hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi mốt ngàn đồng).
Đối với Đỗ Thị N, Nguyễn Xuân A, Phạm Mười E do số tiền đánh bạc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên ngày 11/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện R xử phạt hành chính đối với Đỗ Thị N, Nguyễn Xuân A, Phạm Mười E về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền, mỗi người là 350.000đồng và tịch thu số tiền đánh bạc (Đỗ Thị N 1.886.000đồng, Nguyễn Xuân A 495.000đồng, Phạm Mười E 1.440.000đồng).
Trong quá trình điều tra, Hồ Văn H khai nhận bắt đầu ghi bán số lô, số đề từ cuối tháng 02/2023 đến ngày 13/3/2023 bị phát hiện, bị can tự chung chi với người mua, không có giao phơi cho ai và cũng không có ai phụ giúp bị cáo, bị cáo thu lợi được số tiền 2.100.000đồng, ngày 13/3/2023 bị cáo bán được số tiền 11.021.000đồng, kết quả người tham gia trúng được số tiền 11.200.000đồng, H chỉ nhận tiền 1.820.000đồng, còn lại chưa nhận tiền và chưa chung chi cho người trúng thì bị bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSTÔ ngày 02/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân nhân huyện R, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Hồ Văn H về tội“Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Văn H: Từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu để lưu hồ sơ vụ án 05 tờ giấy (gồm 04 tờ có ghi nhiều con số được đánh số thứ tự từ 01-04 có chữ ký của Hồ Văn H; 01 tờ giấy có ghi nhiều con số có chữ ký chữ viết của Đỗ Thị N do Đỗ Thị N nộp trong quá trình điều tra) để lưu vào hồ sơ vụ án.
Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước: 03 điện thoại di động (01 cái cảm ứng màu đen phía sau có chữ REALME màu trắng, kiểu máy RMX1811 của Hồ Văn H, 01 cái hiệu VIVO màu đen của Đỗ Thị N và 01 cái hiệu VIETTEL của Phạm Mười E, tự nguyện giao nộp);
Tịch thu tiêu hủy: 02 cây viết píc (01 cây mực màu xanh và 01 cây mực màu đỏ); 01 quyển tập học sinh; 11 tờ giấy trắng được cắt, xé nhỏ;
Tịch thu sung công qũy nhà nước số tiền đánh bạc 18.400.000đồng của bị cáo H (Trong đó thu tại nhà bị cáo H 1.820.000đồng, còn lại buộc bị cáo nộp 16.580.000đồng).
Trả lại bị cáo 01 mắt kính màu vàng.
Về án phí sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và có thái độ ăn năn, hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đỗ Thị N, Nguyễn Xuân A và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên việc xét xử vắng mặt những người trên của Hội đồng xét xử là phù hợp pháp luật.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra thu thập, qua đó xác định: Lúc 16 giờ 40 phút ngày 13/3/2023, lực lượng Cảnh sát hình sự Công an huyện R kiểm tra nơi ở của bị cáo Hồ Văn H, ngụ ấp S, xã M, huyện R, tỉnh Vĩnh Long phát hiện Hồ Văn H đang sao chép các con số đề đã bán trong ngày để tính tiền ăn thua với người mua. Số tiền Hồ Văn H đánh bạc ngày 13/3/2023 là 22.221.000đồng (hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi mốt ngàn đồng). Trong đó bán được 11.021.000đồng, người mua trúng được số tiền 11.200.000đồng nên có đủ căn cứ quy kết bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực nhận thức hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nên cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có em Nguyễn Kim Q là liệt sĩ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về vật chứng và xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét thấy:
05 tờ giấy (gồm 04 tờ có ghi nhiều con số được đánh số thứ tự từ 01-04 có chữ ký của Hồ Văn H; 01 tờ giấy có ghi nhiều con số có chữ ký chữ viết của Đỗ Thị N do Đỗ Thị N nộp trong quá trình điều tra) là vật chứng vụ án nên tịch thu để lưu hồ sơ vụ án;
03 điện thoại di động (01 cái cảm ứng màu đen phía sau có chữ REALME màu trắng, kiểu máy RMX1811 của Hồ Văn H, 01 cái hiệu VIVO màu đen của Đỗ Thị N và 01 cái hiệu VIETTEL của Phạm Mười E, tự nguyện giao nộp). Đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, hóa giá sung công hủy nhà nước.
02 cây viết píc (01 cây mực màu xanh và 01 cây mực màu đỏ); 01 quyển tập học sinh; 11 tờ giấy trắng được cắt, xé nhỏ là tài sản không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
Số tiền 1.8.400.000đồng là số tiền do phạm tội mà có. Trong đó thu tại nhà bị cáo 1.820.000đồng và buộc bị cáo Hồ Văn H nộp số tiền 16.580.000đồng để tịch thu sung công quỹ nhà nước;
01 mắt kính màu vàng là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với Đỗ Thị N, Nguyễn Xuân A, Phạm Mười E do số tiền đánh bạc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên ngày 11/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện R xử phạt hành chính đối với Đỗ Thị N, Nguyễn Xuân A, Phạm Mười E về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền, mỗi người là 350.000đồng và tịch thu số tiền đánh bạc (Đỗ Thị N 1.886.000đồng, Nguyễn Xuân A 495.000đồng, Phạm Mười E 1.440.000đồng) là phù hợp pháp luật.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuy nhiên bị cáo là người cao tuổi và có đơn xin miễn án nên được miễn toàn bộ theo quy định tại Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 , Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Căn cứ điểm đ Điều 12, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Đánh bạc”
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Hồ Văn H 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong nếu bị cáo không thi hành thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3.Về xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu để lưu hồ sơ vụ án:.
Tịch thu để lưu hồ sơ vụ án: 05 tờ giấy (gồm 04 tờ có ghi nhiều con số được đánh số thứ tự từ 01-04 có chữ ký của Hồ Văn H; 01 tờ giấy có ghi nhiều con số có chữ ký chữ viết của Đỗ Thị N do Đỗ Thị N nộp trong quá trình điều tra).
3.2. Tịch thu hóa giá để sung công quỹ nhà nước: 03 điện thoại di động (01 cái cảm ứng màu đen phía sau có chữ REALME màu trắng, kiểu máy RMX1811 của Hồ Văn H, 01 cái hiệu VIVO màu đen của Đỗ Thị N và 01 cái hiệu VIETTEL của Phạm Mười E);
3.3. Tịch thu số tiền 1.820.000đồng (một triệu tám trăm hai hai mươi ngàn đồng) của bị cáo Hồ Văn H và buộc bị cáo Hồ Văn H nộp số tiền 16.580.000đồng (mười sáu triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
3.4. Tịch thu tiêu hủy: 02 cây viết píc (01 cây mực màu xanh và 01 cây mực màu đỏ); 01 quyển tập học sinh; 11 tờ giấy trắng được cắt, xé nhỏ;
3.5. Trả lại bị các Hồ Văn H 01 mắt kính màu vàng.
Hiện số tiền 1.820.000đồng (một triệu tám trăm hai hai mươi ngàn đồng) và tài sản trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện R, tỉnh Vĩnh Long đang quản lý (Theo biên lai thu tiền số 0002174 ngày 14/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện R và biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện R và Chi cục Thi hành án dân sự huyện R ngày 05/6/2023.
4.Về án phí sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hồ Văn H.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo Hồ Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Mười E được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị N, Nguyễn Xuân A vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long: 01; - Sở tư pháp: 01; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh VL; - VKSND huyện R: 01; - VKSND tỉnh Vĩnh Long: 01; - CA huyện R: 02; - THA huyện R: 01; - UBND xã M: 01; - Bị cáo: 01; - NLQ: 03; - Lưu hồ sơ vụ án: 01. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Hoàng Phong |