vanban.org

Bản án 48/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 35 (đối với Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P), điểm r khoản 1 Điều 51 (đối với Ngô Xuân P) và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; …

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm V 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/6/2023); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Cẩm Vân, Ngô Xuâ Phú - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 35 (đối với Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P), điểm r khoản 1 Điều 51 (đối với Ngô Xuân P) và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; …
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TL
TỈNH HN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HS-ST
Ngày: 21 - 6 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, TỈNH HN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lại Xuân C;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Quách Xuân L và bà Nguyễn Thị M.

- Thư ký phiên toà: bà Nhiếp Thị L1 - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL tham gia phiên toà: ông Từ Văn T - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh HN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Cẩm V - sinh năm 2002; nơi cư trú: Số 81, Hẻm 173/63/17 HHT, phường NH, quận BĐ, thành phố HN; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; có chồng là Tống Vũ H và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 04/3/2023 được tại ngoại, hiện đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

2. Ngô Xuân P - sinh năm 2000; nơi cư trú: thôn MC, xã TH, huyện TL, tỉnh HN; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Xuân H1 và bà Bùi Thị T2; có vợ là Nguyễn Thị Thu T2 và 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 04/3/2023 được tại ngoại, hiện đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết xã hội với nhau, nên Ngô Xuân P có số điện thoại di động 0969.666.798 của Nguyễn Thị Cẩm V và lưu trong danh bạ điện thoại là “Em V”, P biết V bán số lô, số đề trái phép qua điện thoại di động. Vào hồi 16 giờ 18 phút ngày 14/01/2023, P đang ở nhà tại thôn MC, xã TH, huyện TL, thì P có nhu cầu đánh lô, đề. P sử dụng điện thoại di động lắp sim số thuê bao 0329.282.486 nhắn tin SMS đến số điện thoại di động 0969.666.798 của V với nội dung “06-60-16-61 mc 50d”, nghĩa là P mua củaVcác số bao lô 06, 60, 16 và 61 mỗi số 50 điểm, tổng là 200 điểm, mỗi điểm giá là 22.500 đồng/1 điểm, tổng số tiền P mua số bao lô của V là 4.500.000 đồng. Sau khi nhận được tin nhắn của P thì V đã nhắn tin trả lời “Ok”. Đối chiếu với kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 14/01/2023 được Cơ quan CSĐT Công an huyện TL thu thập tại Công ty xổ số kiến thiết HN thì P được 50 điểm số bao lô 16, với số tiền 4.000.000 đồng. Tổng số tiền V và P dùng để đánh bạc với nhau trong ngày 14/01/2023 được xác định là 8.500.000 đồng, số tiền này P và V chưa thanh toán với nhau.

Hồi 16 giờ ngày 23/02/2023, Ngô Xuân P đến Cơ quan CSĐT Công an huyện TL tự thú về hành vi phạm tội của bản thân và khai báo hành vi của Nguyễn Thị Cẩm V, đồng thời tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s bên trong lắp sim số thuê bao 0329.282.486. Cơ quan CSĐT Công an huyện TL tiến hành khai thác chiếc điện thoại, kiểm tra phần tin nhắn SMS có nội dung trao đổi về việc mua bán số bao lô giữa V và P. Quá trình xác minh, đấu tranh, Nguyễn Thị Cẩm V đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Ngày 24/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện TL đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Cẩm V, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0969.666.798 của Nguyễn Thị Cẩm V.

Cơ quan CSĐT Công an huyện TL đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Ngô Xuân P tại thôn MC, xã TH, huyện TL và chỗ ở của Nguyễn Thị Cẩm V tại Số 81, Hẻm 173/63/17 HHT, phường NH, quận BĐ, thành phố HN nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Cẩm V khai nhận bản thân không ký hợp đồng bán xổ số cho công ty nào. Do cần tiền tiêu xài cá nhân, nên từ tháng 01 năm 2023, V bán số lô, số đề trái phép thông qua tin nhắn mạng xã hội Zalo hoặc gọi, nhắn tin đến số điện thoại 0969.666.798 của V. Toàn bộ số lô, đề nàyVsẽ tổng hợp, tự so sánh, thanh toán cho khách. Hình thức chơi số đề và số lô như sau: đối với số đề, người chơi mua bất kỳ 02 số tự nhiên từ số 00 đến số 99 và đối chiếu với 02 số cuối cùng của giải đặc biệt kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày hôm đó. Nếu số người chơi mua trùng với 02 số cuối cùng của giải đặc biệt thì người chơi thắng (trúng đề) và V phải trả cho người chơi số tiền gấp 70 lần số tiền mà người chơi đã bỏ ra mua số đề, nếu không trúng thì người chơi thua, mất số tiền đã bỏ ra mua số đề. Đối với số bao lô: người chơi mua bất kỳ hai số tự nhiên từ số 00 đến số 99 và đối chiếu với 02 số cuối cùng của 27 bộ số của tất cả các giải, từ giải đặc biệt đến giải bảy của kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày hôm đó. Nếu số người chơi mua trùng với 02 số cuối cùng của bất kỳ giải nào thì người chơi thắng (trúng lô) và V phải trả cho người chơi với tỷ lệ 1 điểm được 80.000 đồng, nếu số của người chơi mua trùng với 02 số cuối cùng của nhiều giải thì V còn phải trả cho người chơi số tiền được nhân lên tương ứng với số lần trùng đó. Nếu số người chơi mua không trùng với 02 số cuối cùng của 27 giải, thì người chơi thua và mất số tiền đã mua số lô. Căn cứ vào kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, V sẽ đối chiếu, tự thanh toán thắng, thua với người chơi. Toàn bộ các nội dung tin nhắn SMS, Zalo liên quan đến việc mua bán số lô, số đề, sau khi đối chiếu thắng thua với khách xong V đã xóa hết, V không nhớ số điện thoại, địa chỉ Zalo cụ thể của những người này và không nhớ ai đã mua số lô, số đề của V.

Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS-TA ngày 12/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 35 (đối với Nguyễn Thị CẩmVvà Ngô Xuân P), điểm r khoản 1 Điều 51 (đối với Ngô Xuân P) và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm V từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; xử phạt bị cáo Ngô Xuân P từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Hình phạt bổ sung: phạt Nguyễn Thị Cẩm V từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và phạt Ngô Xuân P từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0329.282.486 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0969.666.798. Truy thu của Ngô Xuân P số tiền 4.500.000 đồng và truy thu của Nguyễn Thị Cẩm V số tiền 4.000.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: vào hồi 16 giờ 18 phút ngày 14/01/2023, Ngô Xuân P đã sử dụng số điện thoại 0329.282.486 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0969.666.798 của Nguyễn Thị Cẩm V để mua 200 điểm lô với tổng số tiền là 4.500.000 đồng và được V đồng ý. Đối chiếu với kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, P đã trúng 50 điểm lô được 4.000.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P dùng để đánh bạc trái phép dưới hình thức mua, bán số lô trái phép là 8.500.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tổng số tiền Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P sử dụng vào việc đánh bạc là từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Thị Cẩm V là người bán trái phép số lô, nên giữ vai trò thứ nhất; còn Ngô Xuân P là người mua trái phép số lô, nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

Về nhân thân các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: các bị cáo đều có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, nên đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ngô Xuân P sau khi phạm tội đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện TL để tự thú về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, xét thấy không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho các bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung. Việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao, hợp nhất Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Hình phạt bổ sung: xét thấy, các bị cáo đánh bạc nhằm thu lời bất chính, nên cần phạt tiền đối với các bị cáo, nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, các bị cáo là lao động tự do, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức phạt tiền cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0329.282.486 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax bên trong lắp 01 sim điện thoại số thuê bao 0969.666.798: đây là công cụ, phương tiện phạm tội; nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 8.500.000 đồng là số tiền Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P dùng để đánh bạc, các bị cáo chưa thanh toán với nhau; nên cần phải truy thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 4.500.000 đồng đối với P và số tiền 4.000.000 đồng đối với V.

Về các vấn đề khác:

- Đối với nội dung Nguyễn Thị Cẩm V khai nhận hành vi bán số lô, đề từ tháng 01 năm 2023 qua điện thoại di động hoặc tin nhắn Zalo: sau khi thanh toán thắng, thua xong, V đã xóa hết nội dung liên quan, không còn nhớ ai là người đã sử dụng số điện thoại, địa chỉ Zalo nào để liên lạc đánh số lô, số đề. Ngoài lời khai của V thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh; nên Cơ quan CSĐT Công an huyện TL không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự của V theo nội dung đã khai nhận và cũng không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với những người có liên quan.

Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 35 (đối với Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P), điểm r khoản 1 Điều 51 (đối với Ngô Xuân P) và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm V 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/6/2023);

- Xử phạt bị cáo Ngô Xuân P 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/6/2023);

Giao bị cáo Nguyễn Thị Cẩm V cho Ủy ban nhân dân phường NH, quận BĐ, thành phố HN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Ngô Xuân P cho Ủy ban nhân dân xã TH, huyện TL, tỉnh HN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm V 3.000.000 đồng và phạt bị cáo Ngô Xuân P 2.000.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

2. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TL với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TL).

- Truy thu của Nguyễn Thị Cẩm V số tiền 4.000.000 đồng, Ngô Xuân P số tiền 4.500.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

3. Án phí: các bị cáo Nguyễn Thị Cẩm V và Ngô Xuân P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ