vanban.org

Bản án 48/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 02 năm tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 19/2/2023 đến ngày 28/2/2023) còn phải chấp hành 01 năm 11 tháng 21 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Văn D - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HS-ST
Ngày 31-5-2023.

NHÂN DANH

NU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệu Phúc Vượng.

2. Ông Nguyễn Hữu Thức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2023/TLST - HS ngày 25 tháng4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1993 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn K (đã chết) và con bà: Đặng Thị U – sinh năm: 1971; Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Có 01 tiền án chưa được xóa án tích, cụ thể: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2020/HSST ngày 06/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt Nguyễn Văn D 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến ngày 08/5/2022 Nguyễn Văn D chấp hành xong án phạt tù.

Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2012/HSST ngày 30/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt Nguyễn Văn D 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về “Tội trộm cắp tài sản”, hiện đã được xóa án tích.

- Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 19/02/2023, đến ngày 28/2/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị U, sinh năm 1971. Trú tại: Bản P, xã P, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 19/02/2023, Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 25B1- 474.02 đi từ nhà xuống bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên để mua xăng xe mô tô. Sau khi mua xăng xong, D nảy sinh ý định đi tìm mua Heroin để sử dụng. Sau đó D điều khiển xe mô tô vào trong bản Noong Thăng, tại đây D dừng xe và tiếp tục đi bộ vào trong bản thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, không rõ nhân thân, lai lịch. Qua trao đổi, nói chuyện, D đưa cho người phụ nữ này số tiền 150.000 đồng để nhờ người này đi mua hộ Heroin, người phụ nữ cầm tiền rồi đi đâu D không rõ khoảng 05 phút sau quay lại đưa cho D 01 gói Heroin bên ngoài được gói bằng một mảnh nilon màu xanh. Mua được Heroin, D cầm trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ thêm khoảng 100 mét thì trích lấy một ít Heroin trong gói Heroin vừa mua được ra sử dụng hết bằng hình thức chích, phần Heroin còn lại D gói lại như ban đầu rồi cầm trong lòng bàn tay phải và tiếp tục đi bộ ra vị trí để xe mô tô rồi điều khiển xe về. Đến 17 giờ 40 phút cùng ngày, khi D về đến bản Mít Thái, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên thì bị Công an xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của D 01 gói Heroin bên ngoài được gói bằng một mảnh nilon màu xanh có khối lượng 0,2 gam và tạm giữ chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-474.02, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn xanh, đen, bạc, số máy: JA39E0506062, số khung: 3902HY530926, xe đã qua sử dụng.

Ngày 19/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 19/KL-TCGĐ ngày 20/02/2023 của người giám định tư pháp, kết luận vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Nguyễn Văn D có khối lượng là 0,2 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã trích 0,12 gam trong tổng số 0,2 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn D theo D khai nhận là Heroin gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 204/KL-KTHS ngày 21/02/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroin.

Bản Cáo trạng số 28/CT -VKS - TU, ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trU Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo, bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy: 0,08 gam Heroin còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu xanh.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Hồi 17 giờ 40 phút ngày 19/02/2023, tại bản Mít Thái, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Nguyễn Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 0,2 gam được gói bằng 01 mảnh nilon màu xanh, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nU về các chất ma túy, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó bị cáo còn có nhân thân xấu vì đã từng bị Tòa án xét xử về tội Trộm cắp tài sản vào năm 2012, do vậy quá trình lượng hình hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông bà nội đều là người có công với Nhà nU được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 0,08 gam Heroin còn lại sau giám định là chất Nhà nU cấm; 01 mảnh nilon màu xanh là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-474.02, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn xanh, đen, bạc, số máy: JA39E0506062, số khung: 3902HY530926, xe đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của bà Đặng Thị U, bà U cho D mượn xe để sử dụng. Việc D mượn và điều khiển chiếc xe này đi mua Heroin thì bà U không biết. Ngày 05/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho Đặng Thị U là đúng quy định, bà U không có đề nghị gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc 0,2 gam Heroin, Nguyễn Văn D khai do D nhờ một người phụ nữ dân tộc mông không rõ nhân thân, lai lịch ở bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên mua hộ. Quá trình điều tra, không xác định được người phụ nữ này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Đặng Thị U là chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe mô tô do Nguyễn Văn D điều khiển đi mua Heroin. Việc D sử dụng chiếc xe mô tô này đi mua Heroin thì bà U không biết nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên không đề cập xử lý đối với bà U là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 02 năm tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 19/2/2023 đến ngày 28/2/2023) còn phải chấp hành 01 năm 11 tháng 21 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn D.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư của Công an huyện Tân Uyên màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 0,08 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu xanh. Vật chứng được niêm phong đúng quy định.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 30 phút, ngày 20/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ