- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừu Hai Sấn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lừu Hai S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HS-ST Ngày 31 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thùng Văn Quân
2. Ông Vàng A Hý
- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại phòng xét xử tầng 1, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Lừu Hai S sinh ngày 13 tháng 7 năm 1974 tại xã Lao Xả Phình, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản Đệ Tinh 2, xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lừu Quang P sinh năm 1952 và con bà Hồ Seo M sinh năm 1954; Bị cáo Lừu Hai S có vợ là Ngải Sủi Siếng sinh năm 1980 và có 02 con, con lớn nhất 18 tuổi, con nhỏ nhất 16 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30 tháng 11 năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà xử phạt 42 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đã chấp hành xong án. Bị cáo Lừu Hai S bắt tạm giữ từ ngày 22 tháng 02 năm 2023 đến ngày 03 tháng 3 năm 2023, tạm giam từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lừu Hai S: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 12 tháng 02 năm 2023 bị cáo Lừu Hai S đang ở lán nương của gia đình ở khu vực bản Đề Tinh 2, xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ thì có một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi đến chơi không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Bị cáo Lừu Hai S đã mua được của ông ta một gói Heroine và 08 (tám) viên Methamphetamine với số tiền là 250.000 đồng, mua bán xong người đàn ông dân tộc Thái đó đi đâu bị cáo không biết còn bị cáo cho vào dưới đệm chỗ ngủ trong lán nương. Mục đích mua để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 22 tháng 02 năm 2023 thì bị tổ công tác Công an xã Phìn Hồ và Đồn biên phòng Si Pha Phìn phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án và đưa về Công an huyện Nậm Pồ để làm rõ.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023 Công an huyện Nậm Pồ cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng Heroine thu giữ của Lừu Hai S là 1,69 gam; khối lượng Methamphetamine thu giữ của Lừu Hai S là 0,7 gam.
Bản kết luận giám định số: 405/KL-KTHS ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng khối lượng 0,28 gam gửi giám định của Lừu Hai S là chất ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng 1,69 gam thu được của Lừu Hai Sấn là Heroine. Mẫu các viên nén mầu hồng khối lượng 0,36 gam gửi giám định của Lừu Hai S là chất ma túy, loại Methamphetamin. Tổng khối lượng 0,7 gam thu được của Lừu Hai S là Methemphetamine.
Bản cáo trạng số: 25/CT-VKSNP ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố Lừu Hai S để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Lừu Hai S từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án. Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Lừu Hai S không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như phần luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo Lừu Hai S mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị không áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 5 Điều 249 BLHS về hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Lừu Hai Sấn nhất trí với lời bào chữa và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào ngày 12 tháng 02 năm 2023 bị cáo Lừu Hai S đang ở lán nương của gia đình ở khu vực bản Đề Tinh 2, xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ thì có một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi đến chơi không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Bị cáo Lừu Hai Sấn đã mua được của ông ta một gói Heroine và 08 (tám) viên Methamphetamine với số tiền là 250.000 đồng, mua bán xong người đàn ông dân tộc Thái đó đi đâu bị cáo không biết còn bị cáo cho vào dưới đệm chỗ ngủ trong lán nương. Mục đích mua để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 22 tháng 02 năm 2023 thì bị tổ công tác Công an xã Phìn Hồ và Đồn biên phòng Si Pha Phìn phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lừu Hai S đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS.
Việc VKSND huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo Lừu Hai S về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai. Tổng khối lượng hai chất ma túy là 2,39 gam.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thấy: Ngày 30 tháng 11 năm 2012 bị Toà án nhân dân huyện Mường Chà xử phạt 42 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đã chấp hành xong án.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Lừu Hai S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Lừu Hai S từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng theo khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát. HĐXX xét thấy việc đề nghị của người bào chữa là phù hợp nên được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông dân tộc Thái bán Heroine và Methamphetamine cho bị cáo; do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu do đó không có cơ sở để xử lý trong vụ án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy khối lượng: 1,41 gam Heroine và 0,36 gam Methamphetanine còn lại đã trừ lấy mẫu giám định.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Ngày 17 tháng 5 năm 2023 bị cáo Lừu Hai S đã có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51 điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lừu Hai S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lừu Hai S: 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 22 tháng 02 năm 2023.
3.Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy khối lượng: 1,41 gam Heroine và 0,36 gam Methamphetanine ( còn lại đã trừ lấy mẫu giám định) là vật chứng vụ án Lừu Hai S. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa Công an huyện Nậm Pồ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lừu Hai S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 31 tháng 5 năm 2023).
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Nậm Pồ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - CQĐT, NTG Công an huyện Nậm Pồ; - Cơ quan THAHS Công an huyện Nậm Pồ; - Bộ phận hồ sơ Công an huyện Nậm Pồ; - Bị cáo; Người bào chữa; - Chi cục THADS huyện Nậm Pồ; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách |