- Tranh chấp gì? án hình sự — "A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Trung D phạm tội “Tàng trữ trái phép
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HS-ST. Ngày 16/6/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quốc Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình và bà Quách Thị Anh Thơ.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Toà
án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2023; Tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Hoà Tiến, huyện
Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 18/5/2023; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 02/6/2023 đối với bị cáo:
Trần Trung D, sinh ngày 12/4/1982 tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn
Lương Ngọc, xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Trần Ngọc T, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1958; Vợ: Trần Thị N, sinh năm 1984 (đã ly hôn), có hai con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 11/3/2020 của Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ra Quyết định số 06/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đưa Trần Trung D vào Trung tâm cai nghiện ma tuý và chăm sóc các đối tượng xã hội tỉnh Thái Bình để cai nghiện bắt buộc, thời hạn 02 năm (Ngày 29/3/2022, đã chấp hành xong). Nhân thân: Năm 2002 tham gia nghĩa vụ quân sự đến năm 2004 xuất ngũ trở về địa phương. Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 94/QĐ-UBND ngày 18/12/2019 của Chủ tịch UBND xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thời hạn 03 tháng đối với Trần Trung D về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 05/3/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Thế T, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Thôn Chấp Trung 1, xã
Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Thôn Chấp Trung 2, xã
Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, tại đoạn đường ĐT453 thuộc địa phận
thôn Tư La, xã Minh Khai, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tổ công tác của Công an huyện Hưng Hà phát hiện, bắt quả tang Trần Trung D tay trái đang cầm 02 gói giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. D khai chất bột màu trắng dạng cục là ma túy loại Heroine, D mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ) ở khu vực ngã tư thị trấn Tiên Hưng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình với giá 400.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm D 02 gói ma túy trên trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Thế T và anh Nguyễn Thanh T. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Trung D, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Bản kết luận giám định số 264/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2163 gam (không phẩy hai nghìn một trăm sáu mươi ba gam).
Bản Cáo trạng số 48/CT-VKSHH, ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Hưng Hà đã truy tố Trần Trung D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Trần Trung D khai nhận: do bị cáo nghiện ma túy nên vào
khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24 tháng 02 năm 2023, bị cáo đi bộ từ nhà ra đường đầu ngõ rồi đi nhờ xe của một người đàn ông (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ) xuống thị trấn Hưng Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Khi đến thị trấn Hưng Hà bị cáo xuống xe đi bộ ra đường quốc lộ 39 rồi tiếp tục đi nhờ xe của một người đàn ông qua đường (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ) xuống khu vực ngã tư Tiên Hưng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình mua ma túy để sử dụng; tại đây bị cáo gặp và mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ) 02 gói ma tuý với giá 400.000 đồng. Bị cáo cầm gói ma túy rồi tiếp tục đi nhờ xe của một người đàn ông qua đường (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ) về thị trấn Hưng Hà tìm nơi sử dụng. Khi bị cáo đi đến ngã tư thôn Tư La, xã Minh Khai, huyện Hưng Hà thì bị công an huyện Hưng Hà kiểm tra, bắt quả tang đang tàng trữ ma túy.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Trần Trung D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/02/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, quyết định án phí hình sự theo luật định.
Bị cáo Trần Trung D đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng
Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa
nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1, điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của
bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Hưng Hà lập hồi 12 giờ 50 phút ngày 24/02/2023 tại trụ sở UBND xã Minh Khai, huyện Hưng Hà, biên bản niêm D đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện Hưng Hà lập hồi 14 giờ 25 phút ngày 24/02/2023 tại trụ UBND xã Minh Khai, huyện Hưng Hà, bản kết luận giám định số 264/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, biên bản ghi lời khai người làm chứng là anh Nguyễn Thế Tài, anh Nguyễn Thanh Tiền.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 24/02/2023,
tại đoạn đường ĐT453 thuộc địa phận thôn Tư La, xã Minh Khai, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Trần Trung D, sinh ngày 12/4/1982, cư trú tại thôn Lương Ngọc, xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có hành vi tàng trữ trái phép 0,2163 gam ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…; c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11
có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000
đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe và làm suy kiệt kinh tế gia đình của người sử dụng, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội, Nhà nước cũng đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán,... trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện việc bị cáo coi thường pháp luật nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo có 01 tiền sự chưa được xoá. Nhân thân bị cáo vào năm 2019 bị chủ tịch UBND xã Tân Tiến ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ bị cáo khai mua của một người phụ nữ
khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, địa chỉ), ở khu vực gần ngã tư thị trấn Tiên Hưng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn tài liệu nào khác, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho bị caó nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng của vụ án số ma túy cơ quan điều tra quản lý của bị cáo
sau khi được giám định, số còn lại được niêm D trong D bì số số 264/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản ,2 Điều 51;
Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Trung D phạm tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Trung D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/02/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Trần
Trung D được hoàn lại sau giám định, niêm D trong D bì số 264/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/5/2023).
4. Về án phí: Bị cáo Trần Trung D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Trung D có quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Quốc Khánh Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; - Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; - THADS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; - Phòng PV06, PC10, PC11; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. Đã in | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Quốc Khánh |