vanban.org

Bản án 48/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đặng Anh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HS-ST
Ngày: 16/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 03 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 282/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Anh T, sinh năm: 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 359/47/2 L, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 08/12; Họ tên cha: Đặng Anh T, sinh năm 1960; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hồ H, sinh năm 1960; Anh chị em ruột: Có 03 người kể cả bị cáo; Nhân thân: Ngày 03/6/2010 bị Tòa án nhân dân Quận 3, TP. Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 59/2010/HS-ST (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2012, đã đóng án phí); Ngày 04/01/2013 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 03/2013/HSST ngày 04/01/2013 (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/6/2016, đã đóng án phí); Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 04/01/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 3, TP. Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 20/11/2020; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay; Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Thái Hoài T1, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: 356/18 Khu phố 2, đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy và không có tiền tiêu xài nên Đặng Anh T đã mua ma túy về phân nhỏ để bán cho người nghiện kiếm lời. Khoảng 09 giờ ngày 17/5/2022, T nhận điện thoại của Thái Hoài T1 hỏi mua 400.000 đồng ma túy loại Heroine, T đồng ý và hẹn T1 đến khu vực gần nhà của T tại ấp H, xã B, huyện H để giao dịch. T đến khu vực quận P mua của một đối tượng nam (chưa xác định lai lịch) 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng rồi đem về nhà chia nhỏ vào 04 đoạn ống hút nhựa, số ma túy còn lại vẫn để trong gói nylon trên bàn. Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, T cầm trên tay 04 đoạn ống hút nhựa chứa ma túy đi ra bãi đất trống thuộc tổ 5, ấp H, xã B, huyện H để bán ma túy cho T1 nhưng chưa kịp giao ma túy và nhận tiền thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hóc Môn phối hợp với Công an xã B phát hiện bắt quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Anh T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. T bán ma túy cho Th 02 lần, lần 1 vào ngày 15/5/2022, lần thứ 2 là ngày bị bắt quả tang. Lời khai của T phù hợp với lời khai của T1.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Anh T thu giữ: 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, 01 cái gương tròn trên có chất bột màu trắng (thu giữ niêm phong chung với gói nylon), 01 con dao lam, 01 hộp quẹt ga, 01 kéo kim loại, 01 số đoạn ống hút nhựa bên trong không chứa gì, 80.000 đồng tiền Việt Nam.

Tại Kết luận giám định số: 2884/KL-KTHS ngày 25/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Gói 1: Bột trắng trong 04 đoạn ống hút nhựa (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn loại Heroine, khối lượng 0,2707g.

- Gói 2: Bột trắng trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn loại Heroine, trọng lượng 0,7037g.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Đặng Anh T:

+ 04 bốn đoạn ống hút nhựa (gói 1) và 01 gói nylon (gói 2) chứa tinh thể màu trắng;

+ 01 xe máy Honda Vision biển số 59E1-819.95 là xe của chị Hoàng Thị Ngọc Y (bạn gái của T) cho T mượn, không biết việc T dùng vào việc phạm tội, CQĐT đã trả lại xe cho chị Y;

+ 01 điện thoại di động có chữ MI (đã qua sử dụng) là điện thoại T dùng để liên lạc bán ma túy;

+ 01 cái gương tròn trên có chất bột màu trắng (đã thu và niêm phong chung với gói nylon để trên bàn trong nhà T);

+ 01 con dao lam, 01 hộp quẹt ga, 01 kéo kim loại, 01 số đoạn ống hút nhựa bên trong không chứa gì là dụng cụ để T phân nhỏ ma túy.

+ 80.000 đồng tiền Việt Nam là tiền riêng của bị can.

- Thu giữ của Thái Hoài T1:

+ 400.000 đồng tiền Việt Nam dùng để mua ma túy;

+ 01 điện thoại di động để liên lạc mua ma túy.

Đối với đối tượng T1 do không đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự nên CQĐT đã giao Th cùng tang vật cho Công an xã B xử lý.

Tại Bản cáo trạng số: 14/CT-VKS-H.HM ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đặng Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Đặng Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Anh T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Phạt bổ sung bị cáo Đặng Anh T từ 5.000.000 (năm triệu) đồng đến 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 400.000 (Bốn trăm ngàn) đồng để sung quỹ Nhà Nước.

- Về xử lý vật chứng của vụ án:

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số 562, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 cái gương tròn; 01 dao lam; 01 quẹt ga; 01 cây kéo kim loại; 01 số đoạn ống hút nhựa bên trong không chứa gì là dụng cụ để T phân nhỏ ma túy.

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động có chữ MI (đã qua sử dụng) là điện thoại T dùng để liên lạc bán ma túy.

+ Trả lại cho bị cáo số tiền Việt Nam 80.000 (tám mươi ngàn) đồng là tiền riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Bản kết luận điều tra của Công an huyện Hóc Môn, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 17/5/2022, Đặng Anh T có hành vi cất giấu 0,9744 gram ma túy ở thể rắn loại Heroine, mục đích để bán. T đã bán cho Thái Hoài T1 02 lần, cụ thể lần 1 ngày 15/5/2022, lần 2 ngày 17/5/2022 chưa kịp giao ma túy và chưa kịp nhận tiền thì bị bắt quả tang tại địa bàn xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền thu lợi bất chính từ hành vi bán ma túy của T là 400.000 (Bốn trăm ngàn) đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Anh T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ ma túy có tác hại khó lường, rất nguy hiểm, không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà còn ảnh hưởng xấu đến gia đình và cộng đồng, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương và khó khăn trong việc phòng chống tội phạm. Nhưng vì muốn đáp ứng nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân và có tiền sử dụng ma túy, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xét xử 02 lần về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 59/2010/HS-ST ngày 03/6/2010 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án số 03/2013/HSST ngày 04/01/2013 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 04/01/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 20/11/2020.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 400.000 (Bốn trăm ngàn) đồng để sung quỹ Nhà Nước.

Đối với các đối tượng bán và mua ma túy của Đặng Anh T: Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Đối với Thái Hoài T1 có hành vi mua ma túy để sử dụng nhưng chưa nhận được ma túy nên không có cơ sở để xử lý hình sự, Cơ quan điều tra đã giao Th cùng tang vật đã thu giữ của Th cho Công an xã Bà Điểm xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số 562, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 cái gương tròn; 01 dao lam; 01 quẹt ga; 01 cây kéo kim loại; 01 số đoạn ống hút nhựa màu trắng bên trong không chứa gì là dụng cụ để T phân nhỏ ma túy.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động có chữ MI (đã qua sử dụng) là điện thoại T dùng để liên lạc bán ma túy.

- Trả lại cho bị cáo số tiền Việt Nam 80.000 (Tám mươi ngàn) đồng là tiền riêng của bị cáo.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Áp dụng Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Đặng Anh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày 17/5/2022.

3. Tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

4. Hình phạt phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

5. Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 400.000 (Bốn trăm ngàn) đồng để sung quỹ Nhà Nước.

6. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số 562, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 cái gương tròn; 01 dao lam; 01 quẹt ga; 01 cây kéo kim loại; 01 số đoạn ống hút nhựa màu trắng bên trong không chứa gì là dụng cụ để T phân nhỏ ma túy.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động có chữ MI (đã qua sử dụng) là điện thoại T dùng để liên lạc bán ma túy.

- Trả lại cho bị cáo số tiền Việt Nam 80.000 đồng là tiền riêng của bị cáo.

(Vật chứng của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKS-HS ngày 21/12/2022, biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2022)

7. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

8. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ