vanban.org

Bản án 48/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 18/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quốc T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Bùi Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAN LỘC
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HS-ST
Ngày: 18/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Đào

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Quốc Linh

Ông Dương Văn Nhạ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Văn Hảo – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trường Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 18/12/2023, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Can Lộc kết nối với điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 41/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Quốc T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/3/2003; Quê quán: Xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKHHTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Bùi Quốc P, sinh năm: 1973 và bà: Trần Thị L, sinh năm 1975, hiện đều sinh sống và làm ruộng tại thôn H, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; A, chị em ruột: Có 3 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/9/2023, đến ngày 12/9/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Ông Thân Văn P1, sinh năm 1971, trú tại: thôn K, xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt. * Những người tham gia tố tụng khác hỗ trợ tổ chức phiên tòa:

- Tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Can Lộc:

Đồng chí Nguyễn Công P2, cán bộ Đội hỗ trợ tư pháp, Công an huyện C, có mặt.

- Tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H:

1. Đồng chí Nguyễn Văn T1

2. Đồng chí Nguyễn Văn T2

3. Đồng chí Hoàng Trọng D

Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/9/2023 do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Bùi Quốc T đi bộ lên khu vực đường tránh thị trấn Đ xin đi nhờ xe người qua đường đi lên khu vực ngã ba K thuộc xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh để tìm mua chất ma tuý. Đến 16 giờ 50 cùng ngày khi đến khu vực ngã ba K, T xuống xe và đi bộ thì gặp một người đàn ông đứng bên đường tầm khoảng 35 tuổi, cao 1,7m, mặc quần áo tối màu, có đeo khẩu trang và đội mũ lưỡi trai, không rõ địa chỉ. T nói với người đàn ông này là tìm mua ma tuý để về sử dụng, người này hỏi lại mua loại gì thì T trả lời “Chi cũng được” rồi đưa cho người đàn ông 600.000 đồng. Sau khi nhận tiền người đàn ông đó cầm tiền đi bộ cách chỗ đứng khoảng 5 mét rồi cúi xuống lấy một chiếc khẩu trang cuộn tròn rồi vứt ở bên vệ đường và quay lại nói với T là “Trong đó có 04 viên hồng phiến đó”. Sau khi nói với T xong thì người đàn ông đó đi bộ lại gần chiếc xe WAVE, màu đen, không rõ biển kiểm soát và lên xe bỏ đi. Bùi Quốc T biết trong chiếc khẩu trang được cuộn tròn có ma tuý nên đã nhặt lên, mở ra thì thấy bên trong có 01 mảnh ni lông màu đen, chứa 04 viên dạng hình tròn, đều màu hồng. Thiều cuộn tròn lại như cũ rồi bỏ vào chiếc mũ phớt màu đen đang đội trên đầu rồi tiếp tục ra xin xe mô tô của người đi qua đường để xin đi nhờ về nhà. Khi đi về đến xã S, huyện C thì do người điều khiển xe mô tô không đi cùng đường nên Bùi Quốc T xuống xe đi bộ, đến gần khu vực trước cổng Ủy ban nhân dân xã S thuộc thôn K, xã S để tiếp tục xin nhờ xe khác đi về nhà. Cùng lúc này lực lượng phòng chống ma tuý tuần tra phát hiện Bùi Quốc T có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý nên đã tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong chiếc mũ đội trên đầu của Bùi Quốc T có 01 chiếc khẩu trang màu trắng được cuộn tròn lại, bên trong có chứa một mảnh ni lông màu đen không rõ kích thước, hình dạng, bên trong mảnh ni lông này có chứa 04 (bốn) viên nén màu hồng, hình tròn. Theo khai nhận của Bùi Quốc T thì đó là ma tuý nên Công an huyện C đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ cùng tang vật.

Tại bản Kết luận giám định số 832/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của Phòng K1, Công an tỉnh H kết luận: 04 (bốn) viên nén màu hồng được đựng trong một mẩu ni lông màu đen không rõ kích thước, bên ngoài mẩu ni lông này được bọc bằng một chiếc khẩu trang màu trắng, cuộn tròn lại gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3891 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định Danh mục các chất ma tuý và tiền chất.

Việc thu giữ và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã thu giữ các đồ vật, tài sản gồm:

- 01 (một) chiếc khẩu trang màu trắng được cuộn tròn lại, bên trong có chứa một mảnh ni lông màu đen không rõ kích thước, hình dạng, bên trong mảnh ni lông này có chứa 04 (bốn) viên nén màu hồng, hình tròn là ma tuý hồng phiến loại, Methamphetamine, có khối lượng là 0,3891 gam (Sau khi lấy 0,1930 gam để tiến hành giám định, còn lại khối lượng 0,1961 gam được cho vào 01 túi ni lông trong suốt rồi dán kín lại, cùng toàn bộ vỏ bao gói cũ được cho vào một phong bì thư có dòng chữ “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH” rồi dán kín lại, trên mép dán kín có chữ ký của các thành phần tham gia và đối tượng).

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, số IMEI: 356742082361996, lắp sim số: 0375523027, đã qua sử dụng của Bùi Quốc T.

Quá trình điều tra, xác định chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X của Bùi Quốc T không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả chiếc điện thoại này cho ông Bùi Quốc P là cha đẻ của Bùi Quốc T. Vật chứng còn lại được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc bảo quản, xử lý theo quy định.

Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 50/CT-VKSCL-HS ngày 27/10/2023, L1.Document.12 "D:\\BICH DAO\\ÁN HÌNH SỰ 2022\\Án HSST Tôn Đức K - vi phạm giao thông.docx" "OLE_LINK1" \a \r \* MERGEFORMAT Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc truy tố bị cáo Bùi Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2023; không xử phạt bổ sung đối với bị cáo; ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, tuyên nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, thời gian, địa điểm phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/9/2023, tại khu vực trước cổng Ủy ban nhân dân xã S thuộc địa phận thôn K, xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, lực lượng Cảnh sát phòng chống ma túy Công an huyện C tuần tra phát hiện và bắt quả tang Bùi Quốc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,3891 gam ma túy loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bùi Quốc T là đối tượng nghiện ma túy. Mặc dù biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng T vẫn cố ý thực hiện với mục đích để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, tàng trữ trái phép 0,3891gam ma túy Methamphetamine. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo có tính chất nguy hiểm cho xã hội, trái với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm đến trật tự kiểm soát, quản lý Nhà nước về chất ma túy.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật nói trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, có ông nội có công cách mạng, do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Liên quan đến vụ án: Trong quá trình điều tra, Bùi Quốc T khai nhận chiều ngày 06/9/2023 đã mua ma túy của 01 nam thanh niên không quen biết đi xe Wave, không rõ biển kiểm soát ở khu vực ngã tư K thuộc địa phận xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không có kết quả. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang tiếp tục áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra làm rõ và xử lý khi có căn cứ là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1961 gam chất ma túy và vỏ bọc ma túy (đã trừ số ma túy lấy mẫu giám định).

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quốc T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc khẩu trang màu trắng, bên trong có chứa một mảnh ni lông màu đen, bên trong mảnh ni lông này có chứa 04 (bốn) viên nén màu hồng, hình tròn là ma tuý hồng phiến loại, Methamphetamine, có khối lượng là 0,1961 gam (đã trừ 0,1930 gam lấy mẫu giám định) được cho vào 01 túi ni lông trong suốt rồi dán kín lại, cùng toàn bộ võ bao gói cũ được cho vào một phong bì thư có dòng chữ “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH” rồi dán kín lại, trên mép dán kín có chữ ký của các thành phần tham gia và đối tượng). Đặc điểm vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Bùi Quốc T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo bản án: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ