vanban.org

Bản án 48/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 18/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Bc (Bc L) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Bc (Bc L) 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 25/01/2023. 2- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Bc (Bc L) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 48/2023/HS-ST
Ngày 18-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để

Bà Hồ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến (tại hai điểm cầu: điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện An Minh) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn Bc (Bc L), sinh ngày 24 tháng 01 năm 1996 tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Nơi đăng ký HKTT: K1 1, thị trấn T11, huyện An Minh, Kiên Giang; Nơi cư trú: K1 1, thị trấn T11, huyện An Minh, Kiên Giang; giới tính nam; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hóa 02/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo không; con ông Lê Văn M (đã chết) và bà Đặng Thị B; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: ngày 29/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án số 37/2015/HSST. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/01/2023, đến ngày 30/01/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa (điểm cầu thành phần Nhà Tạm giữ).

Người tham gia tố tụng khác: Ông Lý Minh Tồn – Kiểm sát viên và ông Lê Văn Luận – cán bộ Nhà tạm giữ, có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà Tạm giữ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 10 phút ngày 21/01/2023, Tổ tuần tra giao thông Công an xã V đang tuần tra lưu động trên tuyến lộ đal kênh Xáng 2, thuộc ấp M C, xã V, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang thì phát hiện Lê Văn Bc điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, có nhiều biểu hiện nghi vấn nên Tổ tuần tra ra tín hiệu dừng xe, tiến hành kiểm tra thì phát hiện trong túi quần bên phải của Bc đang mặc có 01 (một) túi nylon trong suốt hàn kín miệng bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma túy, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng có liên quan gồm:

- 01 (một) túi nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma túy;

- 01 (một) xe mô tô hiệu LUVIAS, biển số 68G1 - 124.23 đã qua sử dụng bị hư hỏng nhiều bộ phận;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu tím, bị vỡ đã qua sử dụng.

Tại cơ quan điều tra Lê Văn Bc khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 21/01/2023, Bc gọi điện thoại cho một người đàn ông không rõ tên gì, chỉ biết ở Cà Mau, đuôi số điện thoại là “72” (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) để mua 300.000 đồng ma túy đá về sử dụng, hai bên hẹn nhau 20 phút sau đến gặp tại cầu Họa Đồ tuyến lộ Hành lang ven biển phía nam, thuộc địa bàn xã Đông Hưng B, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang để giao nhận ma túy. Một lúc sau, Bc điều khiển xe mô tô hiệu LUVUAS màu đỏ đen, biển số 68G1 - 124.23 đến điểm hẹn gặp người lạ mặt trên để mua ma túy, nhận ma túy xong Bc bỏ vào trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô về chòi vuông tôm của người bạn tên Toàn, khi vừa đến đoạn đường thuộc ấp M C, xã V, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Minh đã tạm giữ số vật chứng gồm:

- 01 (một) túi nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma túy;

- 01 (một) xe mô tô hiệu LUVIAS, biển số 68G1 - 124.23 đã qua sử dụng bị hư hỏng nhiều bộ phận;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu tím, bị vỡ đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giám định số: 75/KL-KTHS ngày 27/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

Nhiều hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) túi nylon trong suốt được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methaphetamine. Khối lượng mẩu gửi giám định là 0, 4242 gam.

Tại Cáo trạng số 43/CT-VKS-AM ngày 08/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiên Giang truy tố Lê Văn Bc về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Bc phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bc từ 12 đến 18 tháng tù; về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định.

- Bị cáo thừa nhận bản thân thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận gì. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về chăm sóc mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Bc khai nhận đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu khác. Từ đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 23 giờ 10 phút ngày 21/01/2023, tại ấp M C, xã V, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, Lê Văn Bc đang có hành vi cất giấu ma túy trong túi quần Bc đang mặc, thì bị Công an xã V, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bắt quả tang, lập biên bản thu giữ vật chứng là 01 gói ma túy đá. Theo Kết luận giám định, chất ma túy mà Bc tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0, 4242 gam.

Về tội phạm: Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Bc phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Bởi lẽ: hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng; loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 0,4242 gam. Do đó, hành vi của bị cáo Bc đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của chính bản thân người nghiện, gia đình và xã hội. Ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội và bất bình trong nhân dân nên cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc để có thời gian tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần thấy rằng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt: HĐXX thấy bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương, bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (cha mất sớm) nên có phần giảm nhẹ mức hình phạt là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử có thể phạt tiền bị cáo. Tuy nhiên, thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó đảm bảo việc thi hành án. Vì vậy, HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Đối với số ma túy, các tang vật thu được không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Đối với 01 (một) xe mô tô LUVIAS, biển số 68G1-124.23, đã qua sử dụng, hư hỏng nhiều bộ phận và 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu tím, bị vỡ đã qua sử dụng Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Văn Bc.

Đối với người bán ma túy cho Bc hiện chưa rõ nhân thân nên chưa triệu tập được, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Bc (Bc L) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1.1- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Bc (Bc L) 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 25/01/2023.

1.2- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

2- Về biện pháp tư pháp, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu tiêu huỷ đối với: 01 (một) phong bì được niêm phong, có kí hiệu vụ số: 75/2023, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Trần Nhựt Huynh và hình dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang (bên trong chứa 0,3285g Methaphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu).

(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 24/QĐ-VKS-AM ngày 08-6-2023 của VKSND huyện An Minh).

3- Về án phí, áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Lê Văn Bc chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 18-7-2023)./.

Cỡ chữ