- Tranh chấp gì? án hình sự — "K; S. Hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Kơ Să K’S, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 04/01/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HS-PT Ngày: 17-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Ông Đỗ Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý Số 28/2023/TLPT-HS ngày 13/02/2023 đối với bị cáo Kơ Să K’S; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 04/01/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Kơ Să K’S, sinh năm 1968, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn KN 2, xã ĐKN, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Chil; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Rơ Ông Ha B và bà Kơ Să K’Ch; chồng là Bon Niêng Ha Y, sinh năm: 1968; con: Có 06 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2006.
Tiền án: Không, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).
Trong vụ án này, còn có nguyên đơn dân sự không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3 năm 2022, tại Lô a, Khoảnh 6, Tiểu khu 63, lâm phần do Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đưng K Nớ, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Kơ Să K’S đã sử dụng 01 chiếc dao rựa để chặt hạ, phát dọn cây rừng nhằm mục đích chiếm lấy đất để làm nông nghiệp. Kơ Să K’S thực hiện hành vi phá rừng trong nhiều lần, mỗi lần cách khoảng 02 – 03 ngày, trong khoảng 15 ngày Kơ Să K’S đã chặt hạ toàn bộ số cây tạp, cây lồ ô trên diện tích 5.975 m2 đất rừng sản xuất.
Biên bản kiểm tra số 003010/BB-KT ngày 18/4/2022 của Trạm quản lý bảo vệ rừng - Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim xác định Kơ Să K’S đã chặt cây lồ ô, cây gỗ tạp đường kính từ 06 – 16 cm trên diện tích 5.975 m2.
Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 22/4/2022 đã xác định 02 vị trí Kơ Să K’S phá rừng thuộc Lô a, Khoảnh 6, Tiểu khu 63; vị trí 01 diện tích 5.064 m2, vị trí 02 có diện tích 911m2. Trên tổng diện tích 5.975m2 đất rừng bị hủy hoại có 105 cây gỗ tạp, mật độ cây lồ ô là 3.300 cây /ha. Dấu vết chặt hạ dạo rựa (hay còn gọi là xà gạc).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS, ngày 21/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Lạc Dương kết luận: Giá trị 105 cây tạp SP – thuộc nhóm 6, trữ lượng 5.918 m3 bị chặt trên diện tích 911 m2 là 15.799.759 đ (mười lăm triệu bảy trăm chín chín ngàn, bảy trăm năm mươi chín đồng) và giá trị cây lồ ô bị chặt hạ trên diện tích 5.064m2 có mật độ 3.300 cây/ha là 10.819.443đ (mười triệu, tám trăm mười chín ngàn, bốn trăm bốn mươi ba đồng)
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng giao cho Hạt kiểm lâm Lạc Dương tổ chức thu gom, bán đấu giá lâm sản còn lại tại hiện trường là 5,918 m3 gỗ tạp. Tuy nhiên, do việc thu hồi gỗ là tang vật của vụ án sẽ làm ảnh hưởng đến cây rừng tái sanh và rừng trồng, để đi đến hiện trường phải đi qua rẫy cà phê của người dân, không có đường để kéo gỗ cho nên cơ quan chức năng đề nghị không thu hồi số lâm sản vi phạm trên để lâm sản tự tiêu hủy trong rừng.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 dao rựa (hay còn gọi là xà gạc) dài 98 cm; lưỡi rựa bằng sắt dài 29 cm có bản rộng nhất là 05 cm, cán rựa bằng gỗ dài 68,5 cm, cán gỗ có đường kính 03 cm (đã qua sử dụng và được niêm phong)
Về trách nhiệm dân sự: Lâm sản thiệt hại là 5,918 m3 gỗ tạp, trị giá 26.619.202đ (hai mươi sáu triệu sáu trăm mười chín ngàn hai trăm lẻ hai đồng). Kơ Să K’S đã khắc phục toàn bộ số tiền trên.
Cáo trạng số 18/CT – VKSLD ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Kơ Să K’S về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS 2015).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 04/01/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạc Dương đã xử;
Tuyên bố bị cáo Kơ Să K’S phạm tội “Hủy hoại rừng”.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS 2015.
Xử phạt bị cáo Kơ Să K’S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 04/01/2023 bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Lạc Dương đã tuyên xử đối với bị cáo, đồng thời, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết là HĐXX) nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù đã được giải thích pháp luật nhưng bị cáo vẫn từ chối trợ giúp pháp lý miễn phí và đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử theo quy định của pháp luật, đề nghị của bị cáo đúng quy định pháp luật nên HĐXX tiếp tục xét xử.
[2] Xét đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Toà án trong hạn luật định nên thời hạn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
[3] Khoảng tháng 3 năm 2022, tại Lô a, Khoảnh 6, Tiểu khu 63, lâm phần do Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đưng K Nớ, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Kơ Să K’S đã sử dụng 01 chiếc dao rựa để chặt hạ, phát dọn cây rừng nhằm mục đích chiếm lấy đất để làm nông nghiệp. Kơ Să K’S thực hiện hành vi phá rừng trong nhiều lần, mỗi lần cách khoảng 02 – 03 ngày, trong khoảng 15 ngày Kơ Să K’S đã chặt hạ toàn bộ số cây tạp, cây lồ ô trên diện tích 5.975 m2 đất rừng sản xuất. Kơ Să K’S đã chặt cây lồ ô, cây gỗ tạp đường kính từ 06 – 16 cm trên diện tích 5.975 m2; tổng diện tích 5.975m2 đất rừng bị hủy hoại có 105 cây gỗ tạp, mật độ cây lồ ô là 3.300 cây /ha.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS, ngày 21/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Lạc Dương kết luận: Giá trị 105 cây tạp SP – thuộc nhóm 6, trữ lượng 5.918 m3 bị chặt trên diện tích 911 m2 là 15.799.759 đ (mười lăm triệu bảy trăm chín chín ngàn, bảy trăm năm mươi chín đồng) và giá trị cây lồ ô bị chặt hạ trên diện tích 5.064m2 có mật độ 3.300 cây/ha là 10.819.443đ (mười triệu, tám trăm mười chín ngàn, bốn trăm bốn mươi ba đồng)
[4] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Lạc Dương đã xét xử. Tội phạm và hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo được bản án sơ thẩm phân tích, đánh giá và tuyên bố bị cáo Kơ Să K’S phạm tội “Hủy hoại rừng” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Xét kháng cáo của bị cáo Kơ Să K’S xin hưởng án treo, HĐXX phúc thẩm thấy rằng, trong những năm gần đây tình trạng phá rừng làm nương rẫy diễn ra phức tạp, mặc dù chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng đã cố gắng áp dụng nhiều biện pháp tích cực, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tăng cường công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống, nhưng tình trạng phá rừng, hủy hoại môi trường sinh thái vẫn diễn ra ngày càng phức tạp, tác động xấu đến hệ sinh thái rừng, xâm hại đến sự ổn định và bên vững của môi trường rừng, gây tác hại nghiêm trọng đến nguồn nước, khí hậu. Căn cứ vào khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX thấy rằng, khi quyết định hình phạt bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt bị cáo 12 tháng tù, mức hình phạt bản án sơ thẩm tuyên xử đối với bị cáo là phù hợp, bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Từ những nhận định trên, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Kơ Să K’S, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 04/01/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Kơ Să K’S phạm tội “Hủy hoại rừng”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ vào Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Kơ Să K’S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Kơ Să K’S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện Lạc Dương (02); - VKSND huyện Lạc Dương (01); - Cơ quan CSĐT CA huyện Lạc Dương (01); - Cơ quan THAHS CA huyện Lạc Dương (01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (02); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hữu Hồng |