vanban.org

Bản án 48/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N.

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Lương Thành T; Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2015, quyển số 01/2015, ngày 03/4/2015 do UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho chị Bùi Thị N với anh Lương Thành T không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung giữa N & T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TAN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14/6/2023
V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Thái;

2. Bà Nguyễn Thị Kiều Trang.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/3/2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 51/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Ấp H, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; có mặt

- Bị đơn: Anh Lương Thành T, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: Ấp H, xã A, thị T, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 01/02/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Bùi Thị N trình bày: Về hôn nhân giữa chị N với anh Lương Thành T do tự tìm hiểu, quen biết nhau trước, được cha, mẹ hai bên đồng ý nên hai người tiến tới hôn nhân vào năm 2015. Hai người có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 26/2015, ngày 03/4/2015. Quá trình sống chung, lúc đầu có hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T thường uống rựu và cờ bạc dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xảy ra xung đột, vợ chồng không còn sống chung từ tháng 2022 cho đến nay. Chị N nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Chị N xin được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Hai người có 01 đứa con chung tên Lương Thị Diễm H, sinh ngày 24/6/2011 hiện con đang sống chung với chị N. Khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị N với anh T không có tài sản chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị N với anh T không có nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lương Thành T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh T vắng mặt không lý do.

Biên bản xác minh ngày 28/4/2023 của bà Võ Thị Lệ H là mẹ ruột anh Lương Thành T cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị N và anh T thể hiện: Chị N với anh T tự tìm hiểu kết hôn với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A. Sau khi cưới nhau chị N và anh T về sống tại nhà bà H, đến năm 2015 thì chị N với anh T cất nhà ở riêng, sau đó anh T và chị N đi làm công nhân ở tỉnh Long An, nhà đóng cửa, con giao cho bà H nuôi. Do ảnh hưởng dịch bệnh lương công nhân không ổn định, T không cung cấp tiền cho chị N, từ đó chị N bắt đầu nói sấu anh T và gia đình bên chồng, từ đó dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng. Khoảng cuối năm 2022 cha ruột chị N đến nhà bà H bắt con của chị N và anh T đem về nhà cha chị N nuôi đến nay, từ đó mâu thuẫn tình cảm giữa chị N và anh T càng trầm trọng thêm và hai người không còn sống chung từ đó đến nay. Chị N yêu cầu ly hôn với anh T, bà H thấy hợp lý, vì hai người mâu thuẫn trầm trọn không thể hàn gắn lại được. Chị N với anh T có 01 con chung tên Lương Thị Diễm H, sinh năm 2011, hiện đang sống với chị N. Chị N xin ly hôn, anh T có biết, do bận việc Công ty không thể nghỉ để về theo triệu tập của Tòa án.

Thông báo “số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”, ngày 27/4/2023 Công an xã A cung cấp: Anh Lương Thành T, sinh năm 1985 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thực hiện được do anh T vắng mặt.

Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh ngày 28/4//2023 của bà Võ Thị Lệ H, Thông báo “số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”, ngày 27/4/2023 Công an xã A, biên bản không lấy được lời khai anh Lương Thành T ngày 27/4/2023, Biên bản ghi nhận ý kiến, nguyện vọng con chưa thành niên ngày 14/4/2023.

Tại phiên tòa, chị N giữ nguyên yêu cầu, anh T vắng mặt,

Chị N xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác; anh T không cung cấp chứng cứ.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án, chị Bùi Thị N với anh Lương Thành T có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2022 giữa chị N với anh T có phát sinh mâu thuẫn. Chị N với anh T đã không còn sống chung thời gian dài. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị N với anh T có 01 con chung tên Lương Thị Diễm H, sinh ngày 24/6/2011, hiện đang sống với chị N. Đề nghị giao con tên Lương Thị Diễm H cho chị N nuôi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền: Chị Bùi Thị N khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với anh Lương Thành T, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: Ấp H, xã A, thị T, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.

Thông báo “số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”, ngày 27/4/2023 Công an xã A cung cấp: Anh Lương Thành T, sinh năm 1985 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Sự vắng mặt của đương sự: Anh Lương Thành T vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị N với anh Lương Thành T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số: 26/2015, quyển số 01/2015, ngày 03/4/2015. Xét, hôn nhân giữa chị N và anh T là hợp pháp.

Chị N khai, quá trình sống chung, lúc đầu có hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T thường uống rựu say và cờ bạc dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xảy ra xung đột, vợ chồng không còn sống chung từ tháng 2019 cho đến nay. Chị N nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Chị N xin được ly hôn với anh T.

Biên bản xác minh ngày 28/4/2023 của bà Võ Thị Lệ H là mẹ ruột anh Lương Thành T cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị N và anh T thể hiện: Chị N với anh T tự tìm hiểu kết hôn với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A. Sau khi cưới nhau chị N và anh T về sống tại nhà bà H, đến năm 2015 thì chị N với anh T cất nhà ở riêng, sau đó anh T và chị N đi làm công nhân ở tỉnh Long An, nhà đóng cửa, con giao cho bà H nuôi. Do ảnh hưởng dịch bệnh lương công nhân không ổn định, T không cung cấp tiền cho chị N, từ đó chị N bắt đầu nói sấu anh T và gia đình bên chồng, từ đó dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng. Khoảng cuối năm 2022 cha ruột chị N đến nhà bà H bắt con của chị N và anh T đem về nhà cha chị N nuôi đến nay, từ đó mâu thuẫn tình cảm giữa chị N và anh T càng trầm trọng thêm và hai người không còn sống chung từ đó đến nay. Chị N yêu cầu ly hôn với anh T, bà H thấy hợp lý, vì hai người mâu thuẫn trầm trọn không thể hàn gắn lại được. Chị N với anh T có 01 con chung tên Lương Thị Diễm H, sinh năm 2011, hiện đang sống với chị N. Chị N xin ly hôn, anh T có biết, do bận việc Công ty không thể nghỉ để về theo triệu tập của Tòa án.

Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,… và lý do chính đáng khác”;

“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.

Chị N với anh T có thời gian dài không sống chung, hai người không tự hàn gắn lại được, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Giữa chị N với anh T đã sống xa cách nhau từ năm 2022 đến nay.

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, chấp nhận yêu cầu của chị N ly hôn đối với anh T.

Về con chung: Chị N với anh T, trong thời kỳ hôn nhân hai người có 01 con chung Lương Thị Diễm H, sinh ngày 24/6/2011, đang sống với chị N. Khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Nguyện Vọng của cháu Lương Thị Diễm H muốn được sống với chị N.

Xét, giao cháu Lương Thị Diễm H cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N khai giữa chị với anh T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa anh T với chị N có tài sản, nợ chung mà không tự thỏa thuận được thì anh T vẫn có quyền khởi kiện ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.

Về án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị N được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007374, ngày 09/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Anh Lương Thành T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N.

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Lương Thành T;

Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2015, quyển số 01/2015, ngày 03/4/2015 do UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho chị Bùi Thị N với anh Lương Thành T không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao cháu Lương Thị Diễm H, sinh ngày 24/6/2011 cho chị Bùi Thị N được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Lương Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Bùi Thị N cùng thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lương Thành T trong trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh Lương Thành T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa anh T với chị N có tài sản, nợ chung thì anh T vẫn có quyền khởi kiện chị N ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác

Về án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị N được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007374 ngày 09/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Anh Lương Thành T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị Bùi Thị N có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Thời gian kháng cáo của anh Lương Thành T là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ