vanban.org

Bản án 48/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Út L.

Về hôn nhân: Nguyên đơn Trương Thị Út L được ly hôn với bị đơn Trần Minh T. Về con chung: Giao hai con chung Trần Trương Quỳnh N, sinh ngày 14/01/2015 và Trần Trường Bảo V, sinh ngày 18/3/2022 cho nguyên đơn Trương Thị Út L trực tiếp nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Út L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08-9-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mộng Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tuyển và ông Nguyễn Xuân Chí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga - Thư ký TAND huyện T, tỉnh Phú Yên.

Ngày 08/9/2023, tại trụ sở TAND huyện T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 186/2023/TLST – HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/8/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trương Thị Út L, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Bị đơn: Trần Minh T, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Trương Thị Út L trình bày:

Về hôn nhân: Vợ chồng tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào năm 2014. Quá trình chung sống hạnh phúc một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường hay cãi nhau. Trong thời gian anh T đi chấp hành án tù, tôi vẫn ở nhà chăm lo gia đình, nhưng sau khi ra tù, anh T không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, suốt ngày ăn chơi liêu lỏng, tôi đã khuyên nhiều lần nhưng anh không thay đổi. Hai bên không còn sống chung từ tháng 3/2022, nên nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Có 02 con chung Trần Trương Quỳnh N, sinh ngày 14/01/2015 và Trần Trường Bảo V, sinh ngày 18/3/2022, lâu nay các con do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn nguyên đơn xin tiếp tục nuôi hai con và yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi hai con là 3.000.000đ/tháng.

Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn Trần Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, xin được tiếp tục nuôi hai con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét ý kiến trình bày của đương sự, HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ tranh chấp ly hôn; Bị đơn có hộ khẩu tại huyện T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện T theo quy định tại Điều 28, 35, 39 của BLTTDS.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227 của BLTTDS.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Nguyên đơn Trương Thị Út L và bị đơn Trần Minh T tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký tại UBND xã H, huyện T ngày 29/5/2014 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm hay cãi nhau, bị đơn không có trách nhiệm, không quan tâm chăm sóc con cái; sự việc nêu trên có xác nhận của trưởng thôn P và UBND xã H. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Có 02 con chung Trần Trương Quỳnh N, sinh ngày 14/01/2015 và Trần Trường Bảo V, sinh ngày 18/3/2022, ly hôn nguyên đơn xin được tiếp tục nuôi hai con . Xét, hai cháu lâu nay do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, đã quen sống cùng nguyên đơn; cháu Như có nguyện vọng ở với mẹ nên cần giao hai cháu cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét.

Về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 227 BLTTDS; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Út L.

1. Về hôn nhân: Nguyên đơn Trương Thị Út L được ly hôn với bị đơn Trần Minh T.

2. Về con chung: Giao hai con chung Trần Trương Quỳnh N, sinh ngày 14/01/2015 và Trần Trường Bảo V, sinh ngày 18/3/2022 cho nguyên đơn Trương Thị Út L trực tiếp nuôi dưỡng.

Bị đơn Trần Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Nguyên đơn Trương Thị Út L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HNGĐ sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền số 0006195 ngày 02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Phú Yên.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ