- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuopoi con khi ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10/8/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có.
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Vinh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đăng Thảnh.
Bà Quách Thị Hoàng.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mỹ Duyên là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 103/2023/TLST - HNGĐ ngày 24/4/2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị H - Sinh năm 1987 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn HS, xã TL, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Phạm Văn T - Sinh năm 1985 (Vắng mặt lần thứ 2).
Địa chỉ: Thôn HL, xã QT, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Hà Thị H trình bày: Chị và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 03/8/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không thống nhất cách làm ăn và cư sử trong gia đình khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình dàn xếp nhiều lần nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn trầm trọng từ đầu năm 2017, chị đã mang con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn T theo quy định của pháp luật.
Về con cái: Chị và anh Phạm Văn T có 01 con chung là Phạm Hà Yến N – Sinh này 03/02/2012, kể từ khi vợ chồng sống ly thân, chị là người chăm sóc nuôi dưỡng cháu Yến N. Vợ chồng ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu Phạm Hà Yến N cho chị chăm sóc nuôi dưỡng và chị tự nguyện không yêu cầu anh Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Phạm Văn T có mặt theo địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện, khi Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T thì không gặp được anh T, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho anh Phạm Văn V và chị Hà Thị T là anh trai và chị dâu của anh T, anh V cam đoan sẽ giao các văn bản của Tòa án cho anh T, chị Hà Thị T trình bày: Anh Phạm Văn T và chị Hà Thị H kết hôn với nhau vào năm 2011, quá trình chung sống chị H và anh T mâu thuẫn thế nào thì chị không biết, chị chỉ nghe chị H nói là vợ chồng chị H không thể sống chung với nhau được nữa, sau đó chị H và anh T sống ly thân, chị H đã mang con và chuyển khẩu về nhà bố mẹ đẻ ở xã TL, huyện NL sinh sống. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, chị đã thông báo cho anh T biết, anh T có nói với chị là anh T đồng ý ly hôn, đồng ý giao con cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án xét thấy việc anh Phạm Văn T vắng mặt thuộc trường hợp bị đơn từ chối khai báo, nên tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn phù hợp với quy định của pháp luật, việc bị đơn vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và tại phiên tòa là bị đơn tự bỏ đi quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Hà Thị H được ly hôn anh Phạm Văn T và giao con là Phạm Hà Yến N cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, chị H phải chịu án phí ly hôn theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định.
. Về hôn nhân: Căn cứ lời trình bày chị H và Trích lục kết hôn giữa chị Hà Thị H và anh Phạm Văn T, đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét nguyện vọng ly hôn của chị H thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T biết rõ việc chị H khởi kiện ly hôn, nhưng anh T không đến tòa làm bản tự khai, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa và theo xác nhận của chị T chị dâu của anh T thì anh T và chị H đã sống ly thân, điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp.
. Về con chung: Căn cứ lời trình bày của chị Hà Thị H và giấy khai sinh của Phạm Hà Yến N đủ cơ sở xác định chị H và anh T có 01 con chung là Phạm Hà Yến N – Sinh ngày 03/02/2012. Xét đề nghị xin được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị H thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án anh T không trình bày ý kiến về việc giao nuôi con, nên không có căn cứ giao con cho anh T nuôi dưỡng. Đề nghị xin được nuôi con của chị H phù hợp với nguyện vọng của cháu Phạm Hà Yến Nhi. Mặt khác theo xác nhận của chị T kể từ khi chị H và anh T sống ly thân, chị H là người chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phạm Hà Yến N, nên chấp nhận đề nghị của chị H là phù hợp.
. Về tài sản: Chị Hà Thị H không đề nghị Toà án giải quyết và trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Văn T cũng không có ý kiến về phần tài sản, nên về phần tài sản Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về trình tự thủ tục giải quyết vắng mặt anh Phạm Văn T Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong đơn khởi kiện chị H ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện là anh Phạm Văn T và anh T đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, việc anh T vắng mặt không tham gia phiên họp, phiên hòa giải và không tham gia phiên tòa là thuộc trường hợp bị đơn từ chối khai báo, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao, Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử xét thấy: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị H.
* Về hôn nhân: Chị Hà Thị H được ly hôn anh Phạm Văn T.
* Về con cái: Giao cháu Phạm Hà Yến N – sinh ngày 03/02/2012 cho chị Hà Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hà Thị H về việc không yêu cầu anh Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Phạm Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, ngăn cấm.
* Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0000570 ngày 21/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc. Chấp nhận chị Hà Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 10/8/2023. Anh Phạm Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Ngọc Lặc; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Cơ quan THA huyện NgọcLặc; - Các đương sự; - UBND xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc; - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Vinh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |