vanban.org

Bản án 48/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn ly hôn của anh Nguyễn Văn N, xử cho anh Nguyễn Văn N và chị Tô Thị L được ly hôn.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Nhật K, sinh ngày 04/9/2016 cho anh Nguyễn Văn N có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. ChịL không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn anh Nguyễn Văn N, bị đơn chị Tô Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn ly hôn của anh Nguyễn Văn N, xử cho anh Nguyễn Văn N và chị Tô Thị L được ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 17/4/2023.
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Luân.

2. Bà Trần Thị Hằng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2023/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N. Sinh năm: 1988.

Địa chỉ: Thôn 3, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

2. Bị đơn: Chị Tô Thị L. Sinh năm: 1988.

Địa chỉ: Thôn 3, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh và chịL xây dựng gia đình với nhau vào năm 2015, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mê Linh, huyện Lâm Hà vào năm 2016. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị không được hòa thuận hạnh phúc mà sảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống, quan điểm sống. Vợ chồng anh chị cũng đã cố gắng vì con, nhiều lần nói chuyện để có thể hiểu nhau hơn nhưng tình cảm vợ chồng anh chị vẫn không cải thiện được. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chịL.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Nguyễn Nhật K, sinh ngày 04/9/2016. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi con chung. Anh không yêu cầu chịL phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn chị Tô Thị L trình bày: Chị và anh N xây dựng gia đình với nhau vào năm 2016, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mê Linh, huyện Lâm Hà. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng anh chị bất đồng về tính cách, lối sống, quan điểm sống. Vì vậy, chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh N.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Nguyễn Nhật K, sinh ngày 04/9/2016. Khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được với lý do chịL có đơn xin vắng mặt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn N. Xử cho anh N và chịL được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Nhật K, sinh ngày 04/9/2016 cho anh N có trách nhiệm trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. ChịL không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh N, chịL xác định vợ chồng không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc anh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn anh Nguyễn Văn N và bị đơn chị Tô Thị L vắng mặt tại phiên Tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên cần căn cứ khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh N, chịL theo thủ tục chung là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chịL xây dựng gia đình với nhau vào năm 2016 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mê Linh, huyện Lâm Hà vào ngày 01/11/2016 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh N xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng kéo dài, không còn khả năng cải thiện nên anh N vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với chịL. Anh N cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng anh chị không được hòa thuận hạnh phúc mà sảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống, quan điểm sống. Vợ chồng anh chị cũng đã cố gắng vì con, nhiều lần nói chuyện để có thể hiểu nhau hơn nhưng tình cảm vợ chồng anh chị vẫn không cải thiện được. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chịL. ChịL cũng thừa nhận cuộc sống chung của vợ chồng anh chị thường xuyên sảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng anh chị bất đồng với nhau về quan điểm sống, lối sống. Vì vậy, chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh N.

Xét thấy, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh N và chịL bất đồng với nhau về quan điểm sống, lối sống từ đó vợ chồng anh chị thường xuyên sảy ra mâu thuẫn và sô sát với nhau. Do sảy ra mâu thuẫn nên anh chị đã tự sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân tình cảm vợ chồng anh chị vẫn không cải thiện được. Đồng thời qua xác minh tại chính quyền địa phương thì được biết nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh chị là do anh chị bất đồng với nhau về quan điểm sống, bên cạnh đó do anh N có tính gia trưởng nên vợ chồng anh chị cũng thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên do mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của anh N, xử cho anh N và chịL được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Anh N, chịL xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Nguyễn Nhật K, sinh ngày 04/9/2016. Khi ly hôn anh chị thống nhất giao con chung cho anh N có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xét thấy, từ khi anh chị sống ly thân cho đến nay cháu Khang do anh N chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu nên cần căn cứ khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Nguyễn Nhật K, sinh ngày 04/9/2016 cho anh N có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh N, chịL xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn ly hôn của anh Nguyễn Văn N, xử cho anh Nguyễn Văn N và chị Tô Thị L được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Nhật K, sinh ngày 04/9/2016 cho anh Nguyễn Văn N có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. ChịL không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh N đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0012451 ngày 13 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, anh N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ