- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị O - Nguyễn Văn Hải - T/C ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị O về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với ông Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48 /2023/HNGĐ-ST Ngày 12-6-2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Công Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Sơn
Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị O, sinh năm: 1986;
HKTT: Tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Chỗ ở: Tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1983;
HKTT: Tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Chỗ ở: Tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Bà O, ông H có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các văn bản làm việc tại tòa nguyên đơn bà Trần Thị O trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị O và ông Nguyễn Văn H yêu thương và đi đến cưới nhau năm 2007, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 14/10/2007, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01, ngày 14- 10- 2007. Trong thời gian chung sống bà O và ông H thường đã xảy ra cãi vả, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung và không thể hàn gắn được. Thấy không còn tình cảm nữa, nên bà O mong muốn được Tòa án huyện L giải quyết cho bà O được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
Về con chung và cấp dưỡng: Bà Trần Thị O và ông Nguyễn Văn H có 02 người con chung là cháu Nguyễn Quốc H1, sinh ngày 13-4-2008 và Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 14/8/2009. Bà O yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Trong quá trình tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà O, Tòa án triệu tập ông H để làm việc ông H đến Tòa để làm việc và trình bày ông thống nhất như trình bày của bà O, nhưng hiện nay vẫn còn tình cảm chưa muốn ly hôn với bà O, ông thường xuyên đi biển nên không tiến hành hòa giải nữa và xin giải quyết vắng mặt tại phiên xét xử của tòa án ở các cấp. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà O và ông H ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đựơc nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị O. Về con chung: Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Nguyễn Quốc H1, sinh ngày 13-4-2008 và Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 14/8/2009 nên cần giao cháu H1 và cháu H2 cho bà O tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà O không yêu cầu.Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà O xác định yêu cầu Tòa án giải quyết
về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông H được xác định quan hệ
tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Nơi cư trú của ông Nguyễn
Văn H xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, quy định tại
khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ
luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị O và ông Nguyễn Văn H sống chung với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01, ngày 14- 10- 2007. Trong quá trình chung sống do phát sinh mâu thuẫn không hàn gắn được. Qúa trình tố tụng ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập ông H để làm rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng ông H không có yêu cầu phản tố và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông H thống nhất yêu cầu của nguyên đơn nhưng ông H3 không đồng ý ly hôn lý do vẫn còn tình cảm, nhưng không có giả pháp nào để hàn gắn tình cảm với nguyên đơn, cho thấy không có thiện chí hòa giải đoàn tụ mà bỏ mặc cho mâu thuẫn đến đâu thì đến. Theo kết quả xác minh ông H đang sinh sống tại địa phương nhưng quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn gì hay không thì địa phương không nắm rõ. Bà O cho rằng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không thể hàn gắn trong khi đó ông H không có giải pháp khả thi để hàn gắn. Xét thấy, ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm, bà O kiên quyết xin ly hôn cho thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân Gia đình thì yêu cầu xin ly hôn của bà O là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung và cấp dưỡng: Bà O yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quốc H1, sinh ngày 13-4-2008 và Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 14/8/2009 đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu H1 và cháu H2 đang còn nhỏ, bà O có nguyện vọng nuôi dưỡng và hiện nay Cháu H1 và cháu H2 đang ở với bà O nên giao cho bà O trực tiếp giáo dục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Việc bà O không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Bà O là nguyên đơn nên phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 227, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị O về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với ông Nguyễn Văn H.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị O được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
1.2 Về con chung và cấp dưỡng: Giao cháu Nguyễn Quốc H1, sinh ngày 13-4-2008 và Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 14/8/2009 cho bà Trần Thị O trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), ông Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà O không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
1.3 Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị O phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000863 ngày 30-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỔNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Long Điền; - CCTHA dân sự huyện Long Điền; - UBND xã Ninh Loan, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng (số 46, quyển số 01, ngày 14-10- 2007); - Lưu hồ sơ vụ án... | (Đã ký) Dương Công Hiếu |