vanban.org

Bản án 48/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thu Đ được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Gia H1, sinh ngày 09/12/2015 cho bà Trần Thu Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đèo - Soát"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thu Đ được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31 – 3 – 2023
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đệ

Các vị Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Tấn Liêm

Ông Đỗ Thanh Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc San là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 537/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022. Về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thu Đ, sinh năm 1979 (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp ĐS, xã PT, huyện PT, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp GP, xã THĐ, huyện CN, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo bà Trần Thu Đ trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn S chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2002 đến năm 2010 thì đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông S vay tiền bên ngoài mà không trao đổi trước với bà dẫn đến nợ nần, từ đó giữa bà và ông S thường xuyên cãi vả nhau. Bà và ông S đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2020 cho đến nay. Nay xét thấy đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S.

Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa bà và ông S có 02 người con chung gồm Nguyễn Nhật H, sinh ngày 20/12/2004 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 09/12/2015, hiện các con đang sống với bà. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Gia H1, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Đối với con Nguyễn Nhật H đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông S tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Nguyễn Văn S, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập ông S để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng ông S vắng mặt không lý do.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Trần Thu Đ và ông Nguyễn Văn S là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Văn S có địa chỉ tại ấp Giải Phóng, xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập ông S hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng ông S vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử vắng mặt đối với ông S theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Bà Trần Thu Đ và ông Nguyễn Văn S kết hôn vào năm 2010 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91/2010 ngày 16/8/2010. Do đó, hôn nhân của bà Đ và ông S là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Hội đồng xét xử nhận thấy, mâu thuẫn của bà Đ và ông S thực sự có xảy ra trong thời gian dài, bà Đ và ông S đã ly thân từ tháng 12 năm 2020 cho đến nay nhưng không hàn gắn được. Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho ông S biết về yêu cầu ly hôn của bà Đ nhưng ông S không tham gia phiên tòa và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của bà Đ, cho thấy ông S không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn giữa bà Đ và ông S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của bà Đ đối với ông S là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

[3] Về con chung: Đối với con chung là Nguyễn Gia H1, sinh ngày 09/12/2015 tính đến ngày xét xử sơ thẩm đã trên 07 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Đ và ông S không thỏa thuận người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, bà Đ có yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đối với cháu Hảo thì cháu Hảo trình bày nguyện vọng muốn được sống với mẹ là bà Trần Thu Đ. Đây là ý chí tự nguyện của cháu Hảo và phù hợp với yêu cầu của bà Đ, đồng thời từ khi ly thân cho đến nay cháu Hảo do bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng đã ổn định về đời sống, bà Đ có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ông S được Tòa án thông báo về yêu cầu nuôi con của bà Đ nhưng ông S không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà Đ, giao con chung tên Nguyễn Gia H1 cho bà Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, bà Đ không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Đối với con tên Nguyễn Nhật H đã trưởng thành và có khả năng lao động để nuôi sống bản thân, bà Đ không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với ông S vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, ông S không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

[5] Án phí hoân nhaân vaø gia ñình sơ thẩm: Bà Đ phaûi chịu 300.000 đồng theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì caùc leõ treân;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thu Đ được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Gia H1, sinh ngày 09/12/2015 cho bà Trần Thu Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thu Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008431 ngày 06/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước bà Đ đã nộp đủ. Ông Nguyễn Văn S không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bà Trần Thu Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ