- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Trần Quốc B và Trần Thị T"
- Tòa quyết gì? Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH K | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09/6/2023 V/v tranh chấp "Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu
* Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tấn Để
2. Bà Đoàn Thị Huệ
* Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh K: Bà Lai Thị Ngọc Mãi – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 104/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Trần Quốc B, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh K.
* Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện A, tỉnh K.
(Anh B; chị T có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trần Quốc B trình bày:
Vào năm 2017, anh có sống chung với chị Trần Thị T (không có đăng ký kết hôn). Trong quá trình chung sống anh nhận thấy mối quan hệ không hòa hợp nhau về mọi mặt nên thường xuyên xảy ra cự cãi. Tuy vậy vợ chồng cũng cố gắn níu kéo để xây dựng hạnh phúc nhưng đến nay không có kết quả, khoảng 03 tháng nay vợ chồng thỏa thuận chia tay. Xét thấy hiện nay vợ chồng không còn hàn gắn được nữa nên cả hai đều đồng ý ly hôn.
Về quan hệ hôn nhân: Xin được ly hôn chị Trần Thị T.
Về quan hệ con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn chị Trần Thị T trình bày:
Do quen biết chị và anh B tiến tới hôn nhân năm 2017 nhưng chưa đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống anh B khó khăn, tính tình vợ chồng không hợp, không có sự cảm thông, yêu thương và chia sẻ lẫn nhau. Anh chị đã ly thân khoảng 05 tháng nay. Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có.
Nay anh B yêu cầu ly hôn với chị, chị đồng ý. Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Anh B, chị T: Có đơn xin yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng đã chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Quốc B và chị Trần Thị T xác định xác lập quan hệ vợ chồng năm 2017, nhưng không có đăng ký kết hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận anh Trần Quốc B và chị Trần Thị T là vợ chồng. Anh Trần Quốc B và chị Trần Thị T xác định về con chung, tài sản chung, nợ chung không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn anh Trần Quốc B và chị Trần Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh, chị trong vụ án này.
Về quan hệ hôn nhân:
Anh Trần Quốc B và chị Trần Thị T thống nhất trình bày hai anh, chị tiến đến hôn nhân vào năm 2017, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống không hòa hợp nhau về mọi mặt nên thường xuyên xảy ra cự cãi, vợ chồng không có sự cảm thông, yêu thương và chia sẻ lẫn nhau. Anh, chị cũng đã thời gian ly thân để suy nghĩ và cố gắng níu kéo để xây dựng hạnh phúc nhưng không có kết quả. Nhận thấy cuộc hôn nhân anh, chị không tháo gỡ được nên yêu cầu xin ly hôn.
Căn cứ vào lời trình bày của các bên và kết quả của việc xác minh thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của anh B và chị T đã thật sự trầm trọng, anh chị đều xác định vợ chồng không hòa hợp nhau về suy nghĩ lẫn tính cách, thường xuyên cự cãi. Trong cuộc sống hôn nhân không có yêu thương, chia sẻ lẫn nhau. Anh, chị cũng đã có thời gian ly thân để suy nghĩ cố gắng níu kéo để xây dựng hạnh phúc nhưng không có kết quả. Nay anh B yêu cầu ly hôn với chị T, thì chị T cũng đồng ý. Do anh, chị có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn, nhưng không đi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký theo quy định. Nay có tranh chấp xin ly hôn nên trường hợp này pháp luật quy định anh B và chị T không được công nhận là vợ chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung; Về tài sản chung; Về nợ chung: Anh B và chị T xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Anh B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 9, 14, 15, 51, 53 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Các Điều 24; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Xử:
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận anh Trần Quốc B và chị Trần Thị T là vợ chồng.
2. Về con chung; Về tài sản chung; Về nợ chung: Anh B và chị T xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Anh Trần Quốc B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh B đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001240 ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện A nên được cấn trừ xem như anh B đã thi hành xong phần án phí.
4. Anh Trần Quốc B, chị Trần Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện A; - Chi cục THADS huyện A; - UBND nơi ĐKKH; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN KIM NGỌC GIÀU |